Thursday, October 2, 2014

Tan hoang núi Chuông

(BNN) - Xã Tân Lĩnh nơi hệ thống đình chùa dày đặc được xây dựng từ thời Lý, Trần. Cách nay 5 thế kỷ Gia quốc công Vũ Văn Uyên, Vũ Văn Mật chọn bến Lăn dưới chân núi Hắc Y xây dựng võ trường luyện tập binh sĩ. Tân Lĩnh còn có núi Chuông chứa đựng nhiều giá trị văn hoá tâm linh, từ năm 2002 người ta đã đã biến núi Chuông thành mỏ đá. Chẳng bao lâu núi Chuông sẽ bị san phẳng, những chuyện về núi Chuông chỉ còn lưu truyền trong dân gian...

< Núi Chuông thuở còn nguyên sơ.

Núi Chuông nằm cạnh con đường vào thị trấn Yên Thế huyện Lục Yên (Yên Bái). Núi giống hình quả chuông chùa khổng lồ nổi lên giữa cánh đồng lúa. Cách núi Chuông không xa dưới chân núi Hắc Y, từ thời nhà Lý, tiếp đến thời Trần đã cho xây dựng một hệ thống đình chùa, miếu mạo dày đặc.

< Núi Chuông những năm đầu khai thác.

Trên bán kính khoảng 10 km dọc bờ sông Chảy, chùa có: Chùa Hắc Y- Đại Cại, chùa São, chùa Núi Úc, chùa Dõng, chùa Thượng Miện, chùa Vàng…; đình có: Đình Bến Lăn, đình làng Sâng, đình làng Mủng, đình Mai Sơn, đình Lâm Thượng, đình Nà Ngàm… Sau 7-8 thế kỷ hệ thống đình chùa đó đã bị thời gian tàn phá giờ chỉ còn lại những dấu tích nằm trong lòng đất. Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, đã đánh giá khu vực khảo cổ Hắc Y là: “Một trung tâm văn hoá phật giáo tại vùng núi rừng biên viễn…”.

< Từng mảnh núi Chuông bị xẻ thành các khối đá.

Không biết tự bao giờ người ta gọi trái núi giống như hình quả chuông là núi Chuông. Dưới chân núi Chuông có thôn Làng Chuông, Thôn Hin Chạng, thôn Roong Chuông và thôn Chuông Ính. Do kiến tạo của vùng núi đá, núi Chuông có hang sâu, khi gió thổi qua tạo thành âm thanh nghe binh bong tựa như tiếng chuông chùa. Người Tày nơi đây gọi núi Chuông là Đán Đình, đó là nơi thờ cúng của người dân.

Các cụ già ở đây truyền lại: Từ thời xa xưa núi Chuông là nơi thờ tự rất linh thiêng của bà con trong vùng. Ngoài những ngày lễ, Tết ai có điều gì mong muốn đều tới đây cầu xin. Sự linh thiêng của núi Chuông đã khiến bất kể ai đi qua đây nếu đi ngựa thì phải xuống dắt ngựa và hạ nón mũ, cũng như khi đi qua núi Hắc Y. Nếu ai không xuống ngựa hay hạ mũ nón thì sau đó sẽ gặp những chuyện chẳng lành.

< Núi Chuông bây giờ...

Ngày 19/10/2001, UBND tỉnh Yên Bái cho phép cho Cty Hùng Đại Dương khai thác mỏ núi Chuông chế biến đá vôi trắng nguyên khối và đá block để xuất khẩu. Quyết định này khiến nhiều người dân ngỡ ngàng, không ai có thể tin nổi nơi người dân thờ tự, nơi chứa đựng nhiều giá trị văn hoá tâm linh đã bị biến thành công trường khai thác đá. Một khung cảnh yên bình dưới chân núi Chuông đã biến mất kể từ sau khi Cty Hùng Đại Dương đưa máy móc về khai thác và nổ mìn. Tiếng máy xẻ đá ầm ầm suốt đêm ngày khiến nhiều người đinh tai nhức óc không chịu nổi. Người ta bảo với tôi rằng: Đến người cũng không chịu nổi thì thần linh, thổ địa cũng kinh hãi mà bỏ đi.

< Núi Chuông thành hàng hoá xuất khẩu.

Việc khai thác núi Chuông bắt đầu từ việc hạ đỉnh, tiếp đến là đục khoét thân núi. Cả một trái núi khổng lồ sau hơn 10 năm khai thác đến nay không ai còn nhận ra hình thù gì nữa. Núi Chuông tan hoang, nơi chứa đựng nhiều giá trị văn hoá tâm linh đang bị xoá sổ. Một công trường khai thác đá ngổn ngang, những khối đá trắng toát như vành khăn tang bị ai đó giày xéo rồi vứt nhúm nhó trên mặt đất giữa trời.

Bà Đỗ Thị Hoà nhà đối diện với núi Chuông buồn bã: Người dân chúng tôi ở đây không đêm nào ngủ yên bởi tiếng máy xẻ đá cứ ầm ầm rung chuyển cả mặt đất...

Chuyện trò với bà Hoà tôi được biết, chồng bà là ông Đỗ Văn Ngự được nhận vào làm cho Cty Hùng Đại Dương chuyên khai thác đá. Năm 2004 nghe người dân nói trong hang núi chuông có những đồ thờ cúng bằng đồng, ông Ngự đã cùng một vài người chui vào trong hang tìm thấy một thanh kiếm cổ.

Bà Hoà buồn bã kể: Tôi chưa được tận mắt nhìn thấy thanh kiếm đó dài ngắn như thế nào, chỉ được nghe ông ấy kể lại: Hôm ấy một mình ông vào trong hang đá, hang nằm rất sâu ở lưng chừng núi. Bàn thờ đặt trên vách đá cao với nhiều đồ cúng như: Bát đĩa, bình hương và một thanh kiếm cổ. Ông ấy chỉ lấy mỗi thanh kiếm mang về. Vốn nhát gan, nên ông ấy không dám mang về nhà mà đưa cho thằng Hải và Hoà cất giữ. Tôi cũng chả biết hai thằng bán được bao nhiêu, nghe nói huyện đã thu lại rồi.

Từ sau khi nhặt được thanh kiếm đó, tiền chẳng thấy đâu còn gia đình tôi thì gặp bao nhiêu là chuyện chẳng lành: Trâu đang buộc trong chuồng tự nhiên sùi bọt mép lăn đùng ra chết, lợn gà chết dịch không còn một mống, năm sau ông ấy bị bệnh rồi mất ở bệnh viện bác ạ. Còn đứa con gái lớn nhà tôi thì bị cái thằng có hai con lừa. Vào làm vợ nó mấy năm ở trong Nam, nuôi con nó công cốc, còn mình thì chẳng đẻ đái gì, năm rồi nó bỏ ra đây rồi xin vào làm trong Cty Hùng Đại Dương giờ kiếm được thằng cháu trai bác ạ. Khổ, chả biết nói thế nào cho hết được nỗi khổ…

< Thanh kiếm cổ tìm thấy trong hang núi Chuông.

Sau khi tìm thấy thanh kiếm cổ ở núi Chuông người ta lại tìm thấy một thanh kiếm cổ khác ở xã Lâm Thượng. Hai thanh kiếm cổ đó, tôi đã được tận mắt thấy, hiện đang được người ta đặt lên bàn thờ như để tri ân người xưa trong việc mở đất và giữ nước nơi này.

Sau cái chết của ông Đỗ Văn Ngự, tiếp đến là anh Phạm Văn Vỹ sinh năm 1970 là công nhân, chết ngày 21/3/2005 do tai nạn khi đang khai thác đá. Ông Hoàng Ngọc Chấn, Chủ tịch UBND xã Tân Lĩnh cho biết: Giám đốc đầu tiên khai thác mỏ núi Chuông tên là Nguyễn Hoàng Minh cũng đã mất, ông Minh mất không rõ vì bệnh gì.

Không chỉ người dân nhiều cán bộ lãnh đạo huyện Lục Yên và tỉnh Yên Bái đều tiếc nuối việc khai thác núi Chuông. Giá trị vật chất có thể đo đếm được, nhưng giá trị tinh thần thì không lấy gì bù đắp được.

Nhân chuyện núi Chuông, một cán bộ lãnh đạo tỉnh Yên Bái kể với tôi rằng: Trong một chuyến công tác ở TP. Hồ Chí Minh, một vị lãnh đạo Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người đã phàn nàn tỉnh Yên Bái cho khai thác núi Chuông, đây là một trong những điểm huyệt thu hút nguyên khí từ vũ trụ của quốc gia.

Việc phá núi Chuông sẽ mang đến nhiều tai hoạ không chỉ với người khai thác mà còn liên luỵ tới nhiều người khác...

Theo một số cán bộ nghiên cứu văn hoá, cùng thời gian triều Lý, Trần cho xây dựng đình, chùa ở Lục Yên, nhà vua đã phái một số thầy pháp cao tay lên vùng biên ải yểm bùa vào các dãy núi để chống lại sự xâm lăng của các âm binh từ phương Bắc tới xâm lược bờ cõi nước ta. Nhiều thế kỷ sau, nhà cầm quyền phương Bắc luôn phái người xuống vùng núi phía Bắc Việt Nam để gỡ những lá bùa đó, nhưng không gỡ nổi.

Núi Chuông được một số nhà nghiên cứu văn hoá tâm linh ngờ rằng đây là nơi các thầy pháp yểm bùa. Bởi thế trên bàn thờ đá núi ở Chuông mới đặt thanh kiếm cổ.

< Thanh kiếm cổ thứ hai.

Từ khi núi Chuông bị phá, kiểm lại tôi thấy nhiều sự trùng hợp ngẫu nhiên, ngoài 3 người đã kể ở trên, người ký quyết định cho Cty Hùng Đại Dương khai thác núi Chuông, người này chỉ giữ chức vụ được nửa nhiệm kỳ thì bị cách chức, do vi phạm nguyên tắc quản lý cán bộ, không chấp hành các qui định của Đảng và Nhà nước trong xây dựng cơ bản ở một số công trình.

Còn TGĐ Cty Hùng Đại Dương Phạm Mạnh Hùng, ngày 19/2/2009 bị Công an Yên Bái khởi tố và bắt tạm giam vì tội “Vi phạm các qui định về khai thác tài nguyên” và “trốn thuế”. Người ta đồn rằng các ông này gặp phải những tai hoạ trên là do xâm hại vào núi Chuông. Tuy nhiên, đây là những lời đồn đại không có căn cứ khoa học.
Điều dễ thấy nhất là một quả núi đẹp có cả một bề dày lịch sử đã bị người ta 'ăn' gần hết rồi.

Theo Thái Sinh (Báo Nông Nghiệp VN)
Du lịch, GO!

Dấu tích làng cổ Thiên Xuân (Quảng Ngãi)

Dấu tích ngôi làng cổ hiện nằm ở chân Núi Nứa thuộc thôn Thiên Xuân, xã Hành Tín Đông (Nghĩa Hành). Sau nhiều lần khảo sát và điền dã, nhóm nghiên cứu khảo cổ học của Bảo tàng tỉnh Quảng Ngãi đã phát hiện được vết tích của một ngôi làng từng là nơi sinh sống của hơn 40 hộ dân với đầy đủ các thiết chế của ngôi làng cách nay mấy trăm năm về trước. Đó là cổng làng, cây đa, giếng nước,… và những dòng suối được xếp đá khá độc đáo dưới lòng suối để dẫn nước về làng.

Dấu xưa còn lại

Chu vi của làng gần 2 cây số vuông, toàn bộ ngôi làng được vây bọc bởi một hệ thống thành (không có hào) bằng đá rất vững chãi. Mặt thành rộng 1 mét, cao từ 2,5 mét đến 3 mét, không phát hiện ra bất cứ một loại vôi vữa nào gắn kết giữa các tảng đá, mà người ta chỉ chồng đá lên nhau, móc xích mấu các tảng đá lại, tạo thành một khối rất vững chắc.


< Một góc của bờ thành bằng đá.

Bên ngoài lũy đá (trước đây) được trồng tre gai dày đặc nhằm chống lại thú dữ. Phía Nam của làng còn sót lại dấu vết một đền thờ, cũng theo tiến sĩ Khôi thì đó là nơi thờ thần núi - một tập quán của người Việt cổ ở khu vực miền Trung, nhất là những làng ở gần núi cao như làng Thiên Xuân này. Ngôi miếu chỉ còn sót lại phần nền và một tảng đá, rộng khoảng 1 mét vuông, được mài nhẵn phần mặt, dùng làm nơi đặt lễ vật mỗi khi cúng tế. Làng dựa vào chân núi Nứa, phía Tây của làng (trước đây) là dòng sông Vệ uốn quanh tạo nên những vực xoáy, nước ở vực sâu khoảng 4-5 mét, tương truyền làng có tục danh là Xóm Xoáy (Khoái).


< Đồ gốm Việt phát hiện ở làng cổ.

Bên trong lũy thành vẫn còn dấu tích của tất cả các nền nhà, giếng nước, bình vôi, gốc khế, dây trầu… các mảnh vườn trong làng được chia thành những ô nhỏ vuông vắn, mỗi ô rộng chừng 300 mét vuông, ngăn cách nhau cũng bằng những dãy tường đá được xếp thấp hơn nhiều so với lũy thành.

Trong từng mảnh vườn là các gốc cây khế, gốc cây mít, cây sung, … sừng sững với thời gian. Trước khi đến cổng làng, người ta đi qua dãy đá tam cấp được xếp chồng lên nhau, bên gốc đa đầu làng còn dấu tích của cổng làng được làm bằng gỗ lim, phía đông của làng chính là ngọn núi Nứa nằm trong dãy núi Vàng hùng vĩ.


< Đường dẫn vào làng.

Nước được dẫn về làng bằng những dòng suối nhỏ, lòng suối dài hơn 1 km đều được xếp bằng đá chồng lên nhau ngay ngắn và đẹp mắt - một sự kỳ công hiếm thấy ở các làng cổ người Việt, một hệ thống dẫn thủy độc đáo, vừa chống xói lở, vừa "lọc" được tạp chất của nước qua lớp đá này.

Sau thời gian phát hiện, Bảo tàng tỉnh đã tổ chức đào thám sát tại bến nước của làng. Tại hiện trường, ngoài các loại bình vôi còn có các lớp gốm Việt, dưới các lớp gốm là bộ xương thú còn khá nguyên vẹn. Theo tiến sĩ khảo cổ học Đoàn Ngọc Khôi, việc sử dụng các loại gốm ở Thiên Xuân là sự kế tục giữa văn hóa Chăm và văn hóa Việt ngay từ buổi ban đầu khẩn hoang lập làng.

Ông Hồ Trọng Tấn - một cư dân của làng năm nay đã 84 tuổi, cho biết, đến đời ông là cháu đời thứ 6 của họ Hồ. Làng Thiên Xuân này có bốn tộc họ Nguyễn, Hồ, Lê, Đoàn là những họ tiền hiền đến đây khẩn hoang lập làng.

< Bệ thờ thần núi của làng.

Sau năm 1945, vì nhiều lẽ khác nhau, trong đó theo lời kể lại của một số người cao tuổi ở làng, một trận dịch bệnh đã làm chết nhiều người và cư dân làng phải chuyển xuống vị trí làng hiện giờ cách đó không xa, sát với dòng sông Vệ (đã đổi dòng) hiện nay. Cho đến nay, mặc dù không còn định cư trong ngôi làng cổ này, nhưng con cháu các tộc họ ở làng Thiên Xuân vẫn thừa kế đất đai của tổ tiên để lại và canh tác từ bấy đến giờ.

Làng nằm trên tuyến du lịch

Làng cổ Thiên Xuân nằm sát bên tỉnh lộ 628 từ thành phố Quảng Ngãi đi Ba Tơ ngang qua đèo Đá Chát, nối với quốc lộ 24 thông lên các tỉnh Tây Nguyên. Đây sẽ là điểm dừng chân du lịch lý thú cho du khách khi tham quan tuyến du lịch Theo dòng nhật ký Đặng Thùy Trâm. Thiên Xuân chỉ cách bệnh xá Đặng Thùy Trâm hơn 10 cây số. Bên cạnh đó, cách Thiên Xuân không xa còn là Di tích vụ thảm sát Khánh Giang - Trường Lệ cũng nổi tiếng không kém gì vụ thảm sát Sơn Mỹ.


< Đèo Đá Chát.

Bảo tàng tỉnh và huyện Nghĩa Hành đang phối hợp đo đạt và lập hồ sơ đề nghị công nhận làng cổ Thiên Xuân là di tích lịch sử văn hóa. Thiên Xuân đang chờ đợi ngành du lịch đầu tư vào đây để trở thành một điểm tham quan lý thú cho du khách.

Có thể thời gian không xa nữa, Thiên Xuân sẽ không còn hoang vắng và đìu hiu của ngôi làng không còn người ở. Cách xếp đá trong việc xây dựng ngôi làng -  từ lũy thành cho đến các kiến trúc khác một cách độc đáo của Thiên Xuân sẽ cho du khách thấy được sức lao động của những người buổi đầu đi khai hoang lập ấp là vất vả và kiên nhẫn đến chừng nào.

Làng cổ Thiên Xuân được phát hiện đã thu hút sự chú ý của Trường Viễn đông bác cổ tại Việt Nam, một đoàn cán bộ nghiên cứu của trường -  dẫn đầu là ông Andrew Hardy - Trưởng đại diện  đã đến tận nơi tìm hiểu ngôi làng này. Ông Hardy đánh giá khá cao giá trị lịch sử của ngôi làng này và cho rằng nó sẽ giúp ích nhiều cho giới khảo cổ học Việt Nam trong việc nghiên cứu các ngôi làng cổ ở khu vực miền Trung.

Cũng theo tiến sĩ Khôi, những hiện vật sau đào thám sát ở hiện trường cho thấy có khả năng làng được hình thành vào thế kỷ 15. Những cư dân Việt đến đây khẩn hoang lập làng dưới triều đại Hồ Quý Ly. Sau sự kiện vua Chămpa tiến quân chiếm lại Chiêm Động và Cổ Lũy Động nhân Đế chế Minh Trung Hoa xâm chiếm Đại Việt, những cư dân gốc xứ Thanh Nghệ bị kẹt lại ở đây và họ đã lập làng cố thủ ở vùng đất bán sơn địa này.

Theo báo Bình Định
Du lịch, GO!

Ngõa mật, say hương vị đồng rừng

(TTO) - Ngõa mật có lẽ là cái tên lạ với nhiều người, nhưng với chúng tôi - những đứa con của đồng rừng - chẳng ai lạ lẫm thứ quả ngọt lịm, say nồng của núi rừng này. Về thăm quê, nhìn thấy cây ngõa sai trĩu quả của bà, cái hương vị ngọt lịm, lớp mật sóng sánh như mật ong của quả ngõa chín lại làm tôi nhớ nhung.

Cây ngõa mật mọc nhiều ở các khu rừng miền núi phía bắc như Bắc Giang, Thái Nguyên, Lạng Sơn. Những ai đã có một thời ấu thơ gắn liền với những cánh rừng có lẽ chẳng thể nào quên được vị ngọt, mát của những quả ngõa chín mùi. Quả ngõa gần giống quả vả, cùng họ với quả sung nhưng to hơn sung nhiều. Quả mọc thành chùm ở những cành già, ở gốc hoặc trên những cành riêng không có lá.

< Ngõa sai đơm đặc dưới gốc.

Khi ngõa mật còn nhỏ và xanh, cả màu sắc và hình dáng đều giống quả sung. Nhưng khi chín thì khác nhiều, quả to hơn gấp nhiều lần. Quả chín chuyển từ màu xanh sang màu đỏ sậm.

Cây ngõa mật dễ nhận biết giữa hàng loạt loại cây lá khác của rừng núi. Nó nổi bật lên bởi những chiếc lá bản to như lá sen, những chiếc lá mà khi trời nắng gắt, quên mũ chúng tôi toàn hái dùng như những chiếc ô. Lá ngõa non còn được nhiều người dân ở miền Bắc làm bánh bột lọc hoặc bánh trứng kiến hấp.

< Quả ngõa mật lúc lỉu trên thân cành.

Còn nhớ hồi bé mỗi lần cùng chúng bạn lên rừng hái củi, đứa nào phát hiện cây ngõa mật đang mùa chín thì có công thật to. Lúc ấy chúng tôi lại sà tới hái và chia nhau. Những quả ngõa mật to, chín đỏ tím, có nhiều quả to bằng nắm tay. Quả càng to, bên trong quả càng chia thành nhiều màu. Lớp ngoài có màu trắng, lớp tiếp theo màu đỏ tươi, lớp trong cùng có màu vàng nhiều sợi tua trông như một bông hoa. Bên trong ruột là lớp mật sóng, màu vàng nâu như thạch.

Bổ quả ngõa ra thấy rịn nhiều nhựa trắng như sữa. Trái ngõa khi chín ăn ngọt dịu, cắn thử một miếng nghe vị ngọt nhẹ của thịt quả lan dần nơi đầu lưỡi, tiếp theo là vị ngọt mát của lớp mật trong quả.

Vị ngọt khó quên, không lẫn vào đâu được. Nhiều người còn ví lớp mật đó như thạch mía, ăn vào rất mát. Giữa ngày hè nắng nóng và mệt trên những cánh rừng xanh mà bắt gặp cây ngõa mật với những quả chín đỏ tím thì thật không gì bằng.

< Lớp mật ngọt sóng sánh như mật ong.

Bây giờ khi những cánh rừng thưa dần cây ngõa mật, nhiều người dân đã ươm cây con mang về trồng gần nhà, bên cạnh những giếng nước. Nhà bà tôi cũng có một cây. Cùng đứa em lần ra vườn nơi có cây ngõa mật, càng háo hức khi phát hiện một vài quả chín. Bổ từng miếng ngõa, lớp mật óng ánh như mời gọi, những ký ức của tuổi thơ lại ùa về…

Quả ngõa mật bình thường ăn rất lành, tuy nhiên nếu đói quá hay ăn nhiều trái ngõa mật quá có thể bị say. Có  cảm giác choáng đầu, hoa mắt hoặc buồn nôn… Lá ngõa non theo dân gian còn có thể làm thuốc chống tắc tia sữa và giúp lợi sữa cho sản phụ sau sinh.

Theo Hoàng Hân (Báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Wednesday, October 1, 2014

Homestay ở thôn Nặm Đăm

Thôn Nặm Đăm nằm cạnh thị trấn Tam Sơn khoảng hơn 2km, thuộc xã Quản Bạ, huyện Quản Bạ, giao thông đi lại thuận tiện, dân cư sống tập trung. Tổng diện tích tự nhiên của thôn là 458 ha. Đây là một trong những địa phương đi đầu về phát triển mô hình du lịch cộng đồng tại Hà Giang.

< Trước khi tới Nậm Đăm, các du khách sẽ có dịp chiêm ngưỡng thắng cảnh núi đôi Quản Bạ thuộc huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang.

Nặm Đăm là nơi sinh sống của người dân tộc Dao Chàm. Thôn còn giữ được nhiều nét bản sắc văn hóa, phong tục tập quán và nét sinh hoạt truyền thống. Những ngôi nhà nơi đây đều trình tường, mộc mạc, đậm nét văn hóa, kiến trúc của đồng bào dân tộc Dao. Với 100% là người Dao nên văn hóa nơi đây đồng nhất và giàu nét đặc sắc của đồng bào Dao.

Cả thôn Nặm Đăm hiện có 20/51 hộ làm du lịch theo mô hình Homestay. Du khách thích địa chỉ này là bởi Nặm Đăm vẫn mang đậm sắc màu truyền thống với những mái nhà lợp ngói âm dương đượm màu thời gian, những con người hiền hậu luôn mặc trang phục truyền thống ngay cả khi đi làm đồng.

Nơi đây còn được biết đến bởi những làn điệu dân ca, dân gian truyền thống như hát đối, hát giao duyên, hát đám cưới... của dân tộc Dao; cũng như các lễ hội tiêu biểu như lễ Cấp sắc, lễ cúng Cơm mới, lễ hội Cầu mùa…

Tất cả sẽ được đội văn nghệ gồm 12 người phục vụ khi khách có nhu cầu. Đặc biệt, trang phục phụ nữ Dao áo dài với hoa văn tự thêu bằng tay, cùng những trang sức bằng bạc gồm hoa tai, vòng cổ, vòng tay và khăn quấn đầu rất lạ khiến bất kỳ du khách nữ nào cũng muốn mặc thử.

Đặc sắc nhất là Lễ Cấp Sắc. Lễ cấp sắc là nghi lễ đánh dấu tuổi trưởng thành cho các nam thanh niên trong làng. Bất kỳ người nam giới nào cũng phải trải qua lễ Cấp sắc mới được xem là người đã trưởng thành và được tổ tiên, dòng họ công nhận. Bên cạnh đó, tại đây còn có các lễ hội như lễ Cúng Cơm, lễ Cầu Mùa, lễ Cưới hỏi mang những nét đặc trưng riêng biệt.

Điều đặc biệt ở Nặm Đăm là đây được chọn làm địa điểm xây dựng mô hình nông thôn mới kết hợp với mô hình du lịch văn hóa cộng đồng.

Chính vì vậy, du khách đến với Nặm Đăm không chỉ được thưởng thức và hòa mình vào các phong tục văn hóa đặc sắc mà còn được tham quan ruộng đồng, mô hình sản xuất của đồng bào nơi đây.

Ngay từ những ngày đầu phát động xây dựng làng văn hóa du lịch, người dân trong bản làng đều nhiệt tình hưởng ứng tham gia. Hiện nay cả thôn đã có 10 gia đình thực hiện tốt mô hình này.

Những ngôi nhà trình được tu sửa kiên cố, gọn gàng, các thiết bị đồ dùng được trang bị đầy đủ tại các ngôi nhà nghỉ của người dân chắc chắn sẽ làm cho du khách hài lòng và cảm thấy thoải mái.

Làng văn hoá du lịch cộng đồng thôn Nặm Đăm được du khách biết đến bởi những làn điệu dân ca, dân gian truyền thống như hát đối, hát giao duyên, hát đám cưới… của dân tộc Dao với những câu ca ngọt ngào say đắm. Hơn thế nữa, tới với nơi đây, du khách sẽ có dịp thưởng thức các món ăn dân tộc địa phương do người dân tự chế biến.

Đồng bào Dao ở Nặm Đăm cong nổi tiếng với nghề thêu hoa văn trên trang phục dân tộc, tự may những bộ đồ với những nét hoa văn độc đáo được trang trí hài hoà trên trang phục của người phụ nữ, cùng với đồ trang sức bằng bạc như hoa tai, vòng cổ, vòng tay, và khăn quấn đầu đã tạo nên sự duyên dáng khác biệt cho người phụ nữ dân tộc Dao.

Được mặc những chiếc váy xinh xắn và mềm mại với màu sắc tươi đẹp và mang trên mình những đồ trang sức như vòng cổ, vòng tay này, chắc hẳn nữ du khách sẽ được một lần trở thành một cô thiếu nữ dao xinh đẹp. Bạn cũng có thể mua những món đồ tự làm này về làm quà tặng cho người thân bạn bè, làm kỉ niệm cho chính chuyến đi của mình, điều này thật ý nghĩa và làm bạn luôn nhớ về mảnh đất, con người dễ mến nơi đây.

Theo Hagiangonline.net
Du lịch, GO!

Chợ nổi, nét đặc trưng sông nước miền Tây

(BAĐM) - Đồng bằng sông Cửu Long chi chít sông ngòi kênh rạch, vùng đất được mệnh danh “chín con rồng” này có con nước lớn tràn bờ, nước ròng phơi bãi; có ghe thuyền sinh hoạt ngày đêm xuôi ngược trên sông... hình ảnh đó tự ngàn xưa, hôm nay vẫn vậy.

Người ta nói rằng, sông nước là đặc thù của vùng đất miền Tây, vùng đất của hàng ngàn dòng sông, cửa sông đan xen như mạng nhện. Có sông ngòi, kênh, rạch, có phương tiện vận tải thủy, có người sinh hoạt mua bán trao đổi hàng hóa, tựu trung lại tất cả cảnh mua bán ngộ nghĩnh trên sông, người ta gọi là chợ nổi.

Chợ nổi là nét đẹp riêng của ĐBSCL. Ở Cái Bè Tiền Giang, Cái Răng Cần Thơ, Vàm Láng Phong Điền, Ngã Bảy Phụng Hiệp (Hậu Giang), Sông Gành Hào (Cà Mau), Vĩnh Thuận (Kiên Giang)... từ lâu đã hình thành chợ trên sông nổi tiếng. Hàng trăm ghe xuồng ngày đêm tụ họp, bán đủ thứ hàng của miệt vườn như rau, củ, hoa, trái, tôm, cua, rùa, rắn... để người mua nhận biết mặt hàng, thương lái bán gì treo nấy.

Cứ nhìn nhánh cây ở đầu ghe buộc treo lủng lẳng thứ gì thì trong ghe bán thứ ấy. Tuy nhiên ở mỗi địa danh khác nhau, thời gian hình thành chợ nổi khác nhau, thì nét đặc trưng của chợ nổi nơi đó cũng khác đôi chút.

Nếu như Cần Thơ thủ phủ của miền Tây Nam bộ đã tròn 131 năm rồi đấy (1876 - 2007), tuy còn trẻ lắm so với 300 năm vùng đất đồng bằng. Khi bỏ “Ngũ trấn” lập nên “Lục tỉnh” (1832) Cần Thơ vẫn nép mình đâu đó. Vậy mà Cần Thơ lại có những bước nhảy vọt, nhanh chóng trở thành thành phố lớn nhất, sung túc nhất châu thổ. Để mà “Ai đến Cần Thơ mà chẳng thương/Ai xa Cần Thơ mà chẳng nhớ?”. Nhớ hạt gạo trắng trong, rồi nhớ cái Ngã ba sông Cái Răng, nhớ cái chợ nổi là kia. Gió vẫn lồng lộng.

Xuân này, từ Trấn Giang, Hậu Giang cho tới Cần Thơ hôm nay, điều làm nhiều người ấn tượng nhưng cũng trăn trở khi nói đến chợ nổi Cần Thơ... có lẽ, là cụm từ “trung tâm”, trung tâm của cả vùng châu thổ mênh mông, của “văn minh miệt vườn”, “văn minh sông nước” nhưng họp chợ trên sông bây giờ đã giảm rất nhiều.

Chợ nổi ở đây đa phần là chợ đầu mối, họ đậu cố định cả chục ngày để buôn bán, hết hàng mới lui ghe. Thương lái họ cân hàng của chủ vườn đem xuống ghe bán sỉ cho các thương lái trung chuyển hàng nông sản miền Tây lên thành phố.

Còn đó chợ nổi Miệt Thứ, Vĩnh Thuận, Kiên Giang lại có nét riêng của nó. Miệt Thứ được tính từ con sông Tắc Cậu, Kiên Giang dọc theo tuyến quốc lộ 63 xuôi về đến huyện Thới Bình, Cà Mau gần 60km. Ở đây có tất cả 11 thứ. Từ thứ 1, 2, 3... thứ 11, mỗi thứ có nhóm chợ mọc lên tại các đầu kênh.

Chợ nổi Vĩnh Thuận không rao mời, và cũng không treo hàng lủng lẳng trên mũi ghe. Khách chèo xuồng tự tìm đến mua, bán trao đổi, thuận bán, vừa mua và cách ứng xử rất chan hòa, không có cảnh giành giật hàng hóa. Điều đó đã thu hút rất nhiều du khách đến tham quan.

Chợ  nổi Miệt Thứ họp đông nhất lúc mờ sáng cho đến trưa, buổi chiều tan chợ. Bởi đa số người bán hàng là chủ vườn, chủ rẫy, họ trồng rau thì chở rau, trồng khóm chở khóm... do đặc thù của Miệt Thứ là người dân sống trong những con kênh, rạch nhỏ, vì vậy hàng hóa được vận chuyển bằng xuồng ba lá, xuồng tam bản nhỏ và họ chọn con sông Vĩnh Thuận làm nơi họp chợ để bán hàng cho các bạn hàng bông, từ đây họ đem ngược vào các kênh rạch rao bán, trao đổi sản phẩm, chẳng hạn lấy trái cây đổi cá, lấy rau đổi gà, vịt chứ không nhất thiết người dân chỉ có tiền mới mua được.

Trong khi chợ nổi Phụng Hiệp, Cái Răng lo cho miếng ăn của người dân thành phố thì chợ nổi Cà Mau lan tỏa khắp ngõ ngách thôn quê, vào vùng sâu, xuống biển. Mỗi chiếc ghe là một gia đình “lưu động” trên sông, trong đó có cả những gia đình hai thế hệ. Họ coi chiếc ghe là nhà, khách hàng là người thân lối xóm.

Những năm trước, chợ nổi Cà Mau họp ngay ngã ba Sông Gành Hào rất thuận tiện cho các thương lái tại Cà Mau, vì vậy mà mỗi lần họp chợ không khí rất nhộn nhịp. Cũng chính nơi đây một thời là điểm đến hấp dẫn của du khách trong và ngoài nước.

Do tụ họp đông không đảm bảo an toàn giao thông, nên chợ nổi dời cách thành phố Cà Mau gần 3km hướng về Gành Hào. Dời chợ thì phương thức mua bán nơi đây cũng thay đổi. Buôn bán hai chiều, đó là phương thức mua bán phổ biến của người thương hồ trên sông nước Cà Mau. Hàng hóa từ trên miệt vườn vận tải về bằng những chiếc ghe bầu, họ không neo đậu lâu như trước mà họ đi nhỏ lẻ xuống tận các huyện vùng sâu, nhất là vùng nước mặn, chuyên canh tác nuôi trồng thủy sản như Đầm Dơi, Sông Đốc, Năm Căn, Ngọc Hiển... có ghe đến tận Đất Mũi - mới chịu dừng. Hết hàng, dân thương hồ “ăn” lại than đước, củi đước, phân cá, tôm... mang về trao đổi với nhà vườn. Hành trình xuôi ngược như thế đã tạo cho Chợ nổi Cà Mau có nét đặc thù riêng biệt mà không dễ nơi nào có được.

Có thể nói, với đặc thù là vùng sông nước cũng như cuộc “cách mạng đường thủy” với các con kinh đào ngang dọc, nối thông các điểm chiến lược trong vùng, đã tạo ra đột phá mới cho việc hình thành chợ nổi. Vậy lộ trình tạo bước đột phá cho “trung tâm vùng” phải chăng bắt đầu từ một “Trung tâm lưu chuyển hàng hóa trên sông nước”? Nếu như thủy lợi ĐBSCL được phục hồi và phát triển nhanh chóng trong bối cảnh khai thông “cửa trời, cửa biển, cửa bộ”? Thì hàng hóa ĐBSCL sẽ cất cánh.

Bởi lẽ hiện nay cả một vùng ĐBSCL vẫn là một vùng nông nghiệp, giá trị sản xuất của kinh tế cá thể, nông hộ vẫn chiếm tỷ trọng lớn, thì việc tập trung xây dựng trung tâm nông nghiệp công nghệ cao về giống cây trồng, vật nuôi là việc rất cần thiết; trung tâm công nghiệp tinh chế thủy hải sản, hoa quả các chợ đầu mối nông hải sản... sẽ giúp chợ nổi một thế đứng riêng, độc đáo; là động lực hút thêm bạn bè tụ hội về đây.

Càng tạo ra sức mạnh trong việc khai thác chợ nổi làm điểm tham quan du lịch hấp dẫn, một nét văn hóa đặc trưng của vùng trọng điểm Tây Nam bộ. Nếu như sẽ hình thành tua du lịch tam giác Cà Mau - Kiên Giang - Cần Thơ chuyên tham quan Chợ nổi thì đây là một tua thật hấp dẫn, tại sao không?

Thông tin thêm:

- Tham quan Chợ nổi tại Cà Mau bằng cách: một là đến tại chợ Nông sản, phường 7, hoặc bến tàu B, phường 8, TP.Cà Mau đi bằng xuồng tam bản giá đi về 30 ngàn đồng/chuyến. Hai là đi taxi đến cảng cá Cà Mau, sau đó thuê đò dọc đi khoảng 300m là đến Chợ nổi. Hoặc là từ trung tâm thành phố thuê xe honda ôm chạy qua bến phà (phường 10 cũ) chạy thêm 3km là đến Chợ nổi.

- Tham quan Chợ nổi Miệt Thứ: tại bến xe Cà Mau - Rạch Giá (bến xe tại vành đai 2, P.9, TP.CM) quý khách đi theo hướng quốc lộ 63 về Kiên Giang khoảng 45km (qua địa phận ranh giới Cà Mau – Kiên Giang 6km là đến Chợ nổi Vĩnh Thuận). Vào dịp Tết, chợ nổi nơi đây nhộn nhịp rất đáng để tham quan.

Theo Huỳnh Lâm (Báo Ảnh Đất Mũi)
Du lịch, GO!

5 chợ nổi độc đáo miền Tây

Bưởi Đại Minh - Đặc sản Yên Bái

Bưởi Đại Minh là giống bưởi ngon nổi tiếng, sánh ngang với bưởi Năm Roi, Phúc Trạch, bưởi Diễn, bưởi Thanh Trà… cùng vùng bưởi Đoan Hùng tạo thành vùng quả đặc sản khu vực miền núi phía Bắc.

Yên Bái một tỉnh miền núi phía bắc, không chỉ được biết đến với danh thắng Hồ Thác Bà một trong ba hồ nhân tạo lớn nhất Việt Nam với công trình thủy điện Thác Bà, danh thắng cấp quốc gia ruộng bậc thang Mù Cang Chải, cùng hệ thống Đình, đền, chùa dọc sông Hồng như đền Tuần Quán, chùa Am, đền Đông Cuông...

Yên Bái còn được biết đến với những thức uống, trái cây nổi tiếng như rượu thóc La Pán Tẩn, rượu Sơn Tra, chè Shan Tuyết Suối Giàng, Hồng không hạt Lục Yên, đặc biệt có một loại quả không thể không nhắc đến đó là bưởi Đại Minh.

Xã Đại Minh thuộc huyện Yên Bình giáp ranh với huyện Đoan Hùng (tỉnh Phú Thọ) nằm cạnh bờ sông Chảy. Nơi đây nổi tiếng với giống bưởi ngon làng Khả Lĩnh, tương truyền rằng: Cách nay chừng 5 thế kỷ, có một người tên là Ngô Vi Lã theo Chúa Bầu lên trấn giữ vùng Tuyên Quang chống lại triều đình, khi Chúa Bầu thất bại Ngô Vi Lã thay tên đổi họ đưa vợ con dạt vào vùng núi non cạnh dòng sông Chảy ẩn nấp. Tại đây ông đã dựng nhà cửa, khai khẩn ruộng đồng lập nên ngôi làng mới, đặt tên là Khả Lĩnh Trang.

Trong số loài cây ăn quả bản địa có những cây bưởi ngọt, bưởi chua gốc to cả người ôm, quả sai trĩu cành, da mỏng, múi mọng. Bưởi ngọt, thì ngọt mát có mùi thơm dịu, bưởi chua vẫn có vị ngọt riêng không quá gắt như nhiều giống bưởi chua khác. Vì nỗi nhớ quê hương, con cháu của Ngô Vi Lã đã bứt những trái bưởi thả xuống dòng sông Chảy trôi về hạ lưu, như gửi một thông điệp cho người ở cuối dòng sông về một vùng cây ăn quả nơi này.

Giống bưởi Đại Minh thấp cây, lá tròn, tán rộng, cho quả sai, hình cầu dẹt. Mỗi quả nặng chừng 800 - 1000g,  khi chín vỏ vàng, múi mỏng, tôm ngọt, mọng nước, ăn ngọt và có mùi thơm dìu dịu. Bưởi cho thu hoạch từ tháng 10 đến khoảng tháng 2 âm lịch năm sau. Hiện nay, toàn xã Đại Minh có trên 80ha bưởi cho thu hoạch quả ở 14/15 thôn, được nhân dân địa phương gìn giữ giống và nhân rộng diện tích chủ yếu bằng phương pháp chiết cành hoặc ghép cây.

Với thổ nhưỡng phù hợp và kỹ thuật chăm sóc tốt giống bưởi quý ngày cho năng suất, chất lượng cao: bưởi Đại Minh đã có mặt tại nhiều tỉnh, thành trong cả nước nhưng nhiều nhất chủ yếu là Hà Nội, Vĩnh Yên, Việt Trì, Tuyên Quang, Lào Cai và các tỉnh lân cận.

Đến với Yên Bái, đến với Đại Minh du khách sẽ được thưởng thức đặc sản bưởi ngon và có cơ hội mua cho mình những trái bưởi để đem về thưởng thức và làm quà biếu.

Theo Báo Bắc Giang
Du lịch, GO!

Du lịch chùa Bái Đính

Tọa lạc trên sườn núi, giữa thung lũng mênh mông hồ và núi đá là một ngôi chùa với kiến trúc hoành tráng, đồ sộ nhưng mang đậm bản sắc truyền thống, được báo giới ca ngợi là quần thể chùa lớn nhất Đông Nam Á. Đó chính là quần thể chùa Bái Đính.

Chùa nằm ở cửa ngõ phía tây khu di tích cố đô Hoa Lư, thuộc xã Gia Sinh - Gia Viễn - Ninh Bình, cách thành phố Ninh Bình 15 km, cách Hà Nội 95 km. Quần thể chùa Bái Đính gồm một khu chùa cổ và một khu chùa mới được xây dựng từ năm 2003. Từ nhiều năm qua, nơi đây đã trở thành một địa điểm nổi tiếng, thu hút nhiều Phật tử và khách đến tham quan.

Khu chùa cổ được phát hiện bởi đức thánh Nguyễn Minh Không. Chính ông là người đã biến các hang động thành chùa. Tương truyền rằng nơi đây có nhiều cây thuốc quý mà Thánh Nguyễn Minh Không thường xuống hái lượm mang về chế “thuốc tiên”.

Sau này nhiều lương y ở khắp nơi cũng tìm đến kiếm cây thuốc quý về chữa bệnh cho nhân dân. Trong kháng chiến, Bái Đính còn là một di tích cách mạng thuộc chiến khu Quỳnh Lưu, nơi lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên truyền cách mạng tới nhân dân.

Chùa Bái Đính cổ tọa lạc trên một ngọn núi cao 187m, nằm cách điện Tam Thế của khu chùa mới khoảng 800m về phía đông nam. Khu chùa này nằm gần trên đỉnh của một vùng rừng núi khá yên tĩnh, gồm có một nhà tiền đường ở giữa, rẽ sang bên phải là hang sáng thờ Phật, rồi đến đền thờ thần Cao Sơn ở sát cuối cửa sau của hang sáng; rẽ sang bên trái là đền thờ thánh Nguyễn rồi đến động tối thờ mẫu và tiên. Nơi đây nằm ở vùng đất hội tụ đầy đủ yếu tố nhân kiệt theo quan niệm dân gian Việt Nam, đó là đất sinh Vua, sinh Thánh, sinh Thần.

Khi lên vãn cảnh chùa trên đỉnh Bái Đính, vua Lê Thánh Tông đã tạc một bài thơ tứ tuỵêt chữ Hán, được dịch như sau:

Đính Sơn danh tiếng thực cao xa
Che chở kinh thành tự thuở xưa
Nhân kiệt, địa linh nên vượng khí
Núi thiêng cảnh đẹp vững sơn hà.

Theo sử liệu, Lý Quốc sư Nguyễn Minh Không là người đã sáng lập chùa Bái Đính. Ông là một thiền sư, pháp sư tài danh được vua phong Quốc sư và nhân dân tôn sùng gọi là đức thánh Nguyễn. Khu vực núi Đính nằm cách quê hương đức thánh Nguyễn Minh Không 4 km. Tương truyền, khi ông đến đây tìm cây thuốc chữa bệnh hóa hổ cho vua Lý Thần Tông đã phát hiện ra các hang động đẹp liền dựng chùa thờ Phật và tạo dựng một vườn thuốc quý để chữa bệnh cho dân…

Năm 1997, Bái Đính cổ tự được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa - cách mạng cấp quốc gia. Có một điều hết sức thú vị là mặc dù khu chùa có lịch sử hình thành từ thời Đinh có nhiều chi tiết kiến trúc và cổ vật mang dấu ấn đậm nét của thời Lý.

Chùa được tạo dựng theo lối kiến trúc chùa động khá phổ biến ở Ninh Bình, không có những mái chùa cong vút mái đao hay mũi hài, cũng chẳng có những trụ cột to lớn, đồ sộ hay thượng điện nguy nga lộng lẫy. Toàn bộ các ban thờ Phật, thờ Mẫu của chùa được đặt giữa lòng những sơn động u minh càng làm tăng thêm không khí linh thiêng và huyền bí nới cửa thiền. Trần hang động đã trở thành những mái chùa kiên cố, che chắn chốn thiêng ngự trị của Phật, của Mẫu đã hàng bao thế kỷ nay. Và Bái Đính không chỉ là nới để người đời tỏ lòng mộ đạo mà còn là một thắng cảnh đẹp. Để khi kinh lý qua đây, vua Lê Thánh Tông đã tự tay đề tặng bốn chữ “Minh Đỉnh danh lam” ca ngợi vẻ đẹp chốn này.

Chùa Bái Đính mới (Bái Đính tân tự) là một công trình lớn, có diện tích rộng 80 ha, nằm phía bên kia núi so với chùa cổ và ở phía Tây cố đô Hoa Lư. Một số hạng mục chính: điện Tam Thế, điện Pháp Chủ, điện Quan Âm, Bảo Tháp, Tháp Chuông và các công trình hạ tầng, phụ trợ, khu học viện Phật giáo, khu đón tiếp...

Kiến trúc khu chùa mới nổi bật với những hình khối lớn, hoành tráng mang đậm dấu ấn kiến trúc Việt Nam và sử dụng nguyên vật liệu chính ở địa phương :đá xanh Ninh Bình, gỗ tứ thiết, ngói men Bát Tràng màu nâu sẫm...

Vòm mái vòm mái màu nâu sẫm, cong hình đuôi chim phượng chính là điểm khác biệt nhất của kiến trúc chùa Bái Đính mới. Các chi tiết trang trí kiến trúc cũng mang đậm dấu ấn của các làng nghề truyền thống nổi tiếng ở Việt Nam với sự đóng góp công sức của 500 nghệ nhân và rất nhiều tổ thợ đến từ những làng nghề nổi tiếng như mộc Phúc Lộc, trạm khắc đá Ninh Vân, đúc đồng Ý Yên, thêu ren Văn Lâm, sơn mài Cát Đằng, trạm bạc Đồng Xâm... Các nghệ nhân này được sử dụng các vật liệu địa phương để tạo ra nét thuần Việt trong kiến trúc chùa Bái Đính.

Có thể khái quát một số công trình tiêu biểu của chùa Bái Đính như sau: Tam Quan Nội, xây dựng toàn bằng gỗ quý cao tới đỉnh 16,5m, có chiều dài 32m, rộng 13,5m. Trong tam quan đặt 10 tượng Hộ Pháp bằng đồng, có hai tượng lớn, mỗi tượng cao 5,5m, nặng 12 tấn. Tháp chuông, được xây dựng bằng bê tông cốt thép giả gỗ, kiến trúc theo kiểu tháp chuông cổ, hình bát giác, cao 22m. Tháp chuông treo một quả chuông nặng 36 tấn đúc tại Huế là đại hồng chung lớn nhất Việt Nam.

Điện Quan Thế Âm Bồ Tát được xây dựng toàn bằng gỗ, cao 14,8m, dài 41,8m, rộng 17,4m, gồm 7 gian. Gian giữa của điện đặt tượng Quan Thế Âm Bồ Tát, đúc bằng đồng, nặng 80 tấn, cao 9,57m. Đây cũng là một pho tượng Quan Thế Âm Bồ Tát bằng đồng lớn nhất ở Việt Nam.

Điện Tam Thế Phật, tọa lạc ở trên đồi cao, là một tòa rất cao, rộng, đồ sộ, hoành tráng nhất ở khu chùa Bái Đính. Trong điện Tam Thế có bộ tượng Tam Thế được cấp bằng "Xác nhận kỷ lục": "Ngôi chùa có bộ tượng Tam Thế bằng đồng lớn nhất Việt Nam".

Điện Pháp chủ, nơi có pho tượng Phật Thích Ca cao 10m, nặng 100 tấn bằng đồng được công nhận là tượng Phật cao và nặng nhất Việt Nam. Trong điện còn treo 3 bức hoành phi và 3 cửa võng lớn nhất Việt Nam, mới chỉ có ở chùa Bái Đính.

Hành lang La Hán gồm 234 gian, ở hai phía Đông Tây, có chiều dài hơn 1.000m. Trong các gian hành lang đặt 500 tượng La Hán bằng đá nguyên khối to, mỗi tượng cao 2,4m, nặng khoảng 4 tấn.

Giếng Ngọc của chùa Bái Đính đã lập kỷ lục: "Ngôi chùa có giếng lớn nhất Việt Nam". Giếng có hình mặt nguyệt, rất rộng, đường kính 30m, độ sâu của nước là 6m, không bao giờ cạn nước. Miệng giếng xây lan can đá. Khu đất xung quanh giếng hình vuông, có diện tích 6.000m², 4 góc là 4 lầu bát giác…

Ngày nay, chùa Bái Đính đang được xem là địa điểm du lịch tâm linh hấp dẫn nhất Việt Nam với những kỷ lục đã được ghi nhận như: khu chùa rộng nhất Việt Nam (tổng 539 ha, riêng chùa cổ 27 ha, chùa mới 80 ha), khu chùa có hành lang La Hán dài nhất châu Á (hành lang La Hán dài gần 3 km), khu chùa có nhiều tượng La Hán nhất Việt Nam (500 vị bằng đá xanh cao khoảng 2m), khu chùa có giếng ngọc lớn nhất Việt Nam, khu chùa có số cây bồ đề nhiều nhất Việt Nam (100 cây bồ đề được chiết từ cây bồ đề Ấn Độ), tượng Phật bằng đồng dát vàng lớn nhất châu Á (tượng đồng 100 tấn ở trong điện Pháp Chủ), tượng Phật bằng đồng lớn nhất Đông Nam Á (tượng Phật Di lặc 100 tấn ngoài trời), chuông đồng lớn nhất Việt Nam (đại hồng chung nặng 36 tấn trong Tháp Chuông).

Hãy một lần về thăm Bái Đính, bước trên những bậc đá xếp theo độ dốc vừa phải, cao dần để cảm nhận được không khí trong lành, thoáng mát. Giữa chốn linh thiêng, mênh mông đất trời, văng vẳng tiếng chuông ngân, du khách sẽ thấy lòng mình thanh thản, trút bỏ mọi lo toan của cuộc sống thường ngày.

Một số kinh nghiệm khi du lịch đến chùa Bái Đính

Du ngoạn chùa Bái Đính sẽ không đáng lo dù bạn là du khách phương xa. Trước hết là về cự ly: Từ Hà Nội, bạn có thể đi về trong ngày vì chỉ mất khoảng 2 giờ nếu đi bằng xe máy và khoảng 1 giờ rưỡi nếu đi bằng ô tô. Chi phí thuê xe cũng không cao và bạn có thể chọn các các dịch vụ du lịch ở Hà Nội, vì có niêm yết giá và sẽ có hợp đồng bằng văn bản rõ ràng.

Tại chùa Bái Đính, bạn có thể thỉnh các loại kinh sách, tài liệu về Phật giáo với giá gốc hay có nhiều quà lưu niệm như bùa bình an, hạt đậu may mắn, các vị thuốc núi quý hiếm.

Trong khuôn viên chùa cũng có rất nhiều hàng quán ẩm thực và quà lưu niệm. Bạn cũng có thể mua quà, đặc sản Bái Đính như cơm cháy, các loại bánh... ở các gian hàng dưới núi với giá phải chăng hơn. Nếu muốn nghỉ lại qua đêm thì bạn phải liên hệ trước với nhà chùa. Ngoài ra bạn có thể thuê phòng trọ, khách sạn ở dưới núi.

Theo Đinh Đức Anh, một hướng dẫn du lịch nghiệp dư cho biết, Ninh Bình có rất nhiều nhà nghỉ từ bình dân tới khách sạn sang trọng. Tùy vào điều kiện mà du khách có thể tìm phòng phù hợp. Giá phòng từ 300.000 đến 2.500.000 đồng/ngày đêm. Khách sạn Hoàng Sơn Peace yên tĩnh, tiện nghi, khách sạn Thùy Anh gần khu mua sắm, khách sạn Thanh Bình gần khu ăn uống, khách sạn Tràng An nằm ở trung tâm thành phố, khách sạn Non Nước gần khu vui chơi, Queen Hotel gần ga tàu...
Ngoài ra, còn có các khu nghỉ dưỡng cao cấp như Emeralda Hotel - Resort & Spa ở Vân Long có giá khoảng hơn 2 triệu đồng/đêm…

Tổng hợp theo Di Sản Xanh, Báo Cần Thơ... và nhiều nguồn ảnh khác.
Du lịch, GO!