Showing posts with label Thắng cảnh tâm linh. Show all posts
Showing posts with label Thắng cảnh tâm linh. Show all posts

Sunday, January 25, 2015

Ba ngôi chùa cùng tên trong một thành phố

(VNE) - Tại Đà Nẵng có ba ngôi chùa trùng tên là Linh Ứng, nằm tại bán đảo Sơn Trà, đỉnh Bà Nà và Ngũ Hành Sơn, tạo thành một tam giác du lịch tâm linh lý thú.
Tham quan ba chùa Linh Ứng là dịp để bạn tìm thấy những phút giây tĩnh tại trong tâm hồn khi có dịp đến Đà Nẵng. Dulichgo

Chùa Linh Ứng tại bán đảo Sơn Trà

Ngôi chùa Linh Ứng được biết đến nhiều nhất tại Đà Nẵng nằm trên bán đảo Sơn Trà. Từ trung tâm thành phố, du khách có thể đi qua cầu sông Hàn rồi rẽ trái hoặc theo hướng cầu Thuận Phước khoảng 10 km về hướng đông bắc là tới. Chùa tọa lạc tại vị trí rất đẹp, trên một ngọn đồi ở độ cao gần 700 m, sau lưng là cánh rừng nguyên sinh và hướng mặt ra biển.

Du khách đến chùa sẽ không thấy kiến trúc rêu phong, cổ kính, mà thay vào đó là những công trình quy mô, hiện đại.

Ấn tượng nhất là bức tượng Quan Thế Âm Bồ Tát cao 67 m sừng sững trên một tòa sen khổng lồ. Bên trong tượng có 17 tầng tháp, du khách có thể đi lên để ngắm toàn cảnh chùa với 18 bức tượng La Hán dưới sân, hay phóng tầm mắt ra xa thưởng ngoạn vẻ đẹp hội tụ giữa đất trời và biển cả.

Chùa Linh Ứng trên đỉnh Bà Nà

Chùa Linh Ứng trên đỉnh Bà Nà nằm ở độ cao gần 1.500 m. So với công trình ở bán đảo Sơn Trà, chùa ở đây có phần cổ kính hơn, gợi nhớ hình ảnh của đền chùa Bắc Bộ với mái ngói vút cong, khoảng sân rộng lát đá phía trước và những hàng cột hoa văn rồng cuốn.

Tuy nhiên, chùa cũng có nhiều điểm khác biệt và ấn tượng. Đầu tiên là cây thông có ba loại lá khác nhau trước cửa chùa, sau là bức tượng Đức Bổn Sư uy nghi màu trắng cao 27m trong khuôn viên chùa. Tượng được tạc với dáng ngồi thiền trên tòa sen, khuôn mặt từ bi. Đi cáp treo lên đỉnh Bà Nà, du khách sẽ dễ dàng nhận ra bức tượng trắng muốt nổi bật trên nền trời xanh thẳm, xung quanh là những đám mây bồng bềnh như chốn thiên thai. Dulichgo

Chùa Linh Ứng tại Ngũ Hành Sơn

Ngôi chùa thứ ba mang tên Linh Ứng nằm ở phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, trên đường từ Đà Nẵng đi Hội An. Chùa còn được biết đến với tên gọi chùa Ngoài, đối lại chùa Tam Thai - chùa Trong cùng tọa trên hòn Thủy Sơn. Dù trải qua nhiều lần trùng tu nhưng đến nay chùa vẫn giữ được vẻ đẹp linh thiêng in đậm dấu ấn thời gian.

Cũng như hai ngôi chùa trên, trong khuôn viên chùa Linh Ứng cũng đặt một bức tượng Phật trắng muốt, lưng tựa núi, hướng mặt về phía chùa, tạo nên một không gian thanh tịnh. Đặc biệt, tại đây còn có một tháp Xá lợi đặt thờ hàng trăm tượng Phật, Bồ Tát, La Hán.... Trong đó, tầng 7 thờ Xá lợi Phật và 7 vị Phật truyền đăng.

Tuy khó có thể tham quan ba ngôi chùa Linh Ứng trong cũng một ngày, nhưng mỗi ngôi chùa là một điểm dừng chân thú vị với nhiều điểm đến xung quanh. Bạn có thể kết hợp vãn cảnh chùa với khám phá bán đảo Sơn Trà, đỉnh Bà Nà hay làng đá mỹ nghệ Non Nước ở Ngũ Hành Sơn. Tất cả sẽ làm nên một chuyến đi khác biệt nhưng đầy ý nghĩa tại thành phố biển Đà Nẵng.

Theo Vy An (Vnexpress)
Du lịch, GO!

Friday, January 23, 2015

Bảo tàng cá Ông lớn nhất Đông Nam Á ở VN

Dinh Vạn Thủy Tú là điểm du lịch nổi tiếng ở thành phố Phan Thiết, trưng bày bộ xương cá voi lớn nhất Việt Nam và vượt kỷ lục ra khu vực Đông Nam Á.

< Khu vực giữa dinh lưu giữ hơn 100 bộ xương cá voi, gần một nửa trong số đó có niên đại từ 100 đến 150 năm.

Được xây dựng vào năm 1762, xưa kia dinh Vạn Thủy Tú nằm sát biển, mặt quay về biển Đông và là nơi cá ông dài 22m trôi dạt vào. Theo tín ngưỡng của người dân vùng biển nơi đây thờ thần Nam Hải nhằm thể hiện sự biết ơn loài cá ông thường che chở ngư dân trong những tháng ngày lênh đênh mưu sinh ngoài biển lớn. Ngày nay, dinh tọa lạc trên đường Ngư Ông, phường Đức Thắng, thành phố Phan Thiết.

Dinh nổi tiếng khắp trong và ngoài nước bởi những nét độc đáo hiếm có, lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa liên quan đến việc hình thành và phát triển nghề biển Bình Thuận nói riêng và vùng Nam Trung Bộ nói chung. Nơi thờ này có 24 sắc phong quý của các vị vua triều Nguyễn, bởi các tướng nhà Nguyễn đã nhiều lần được cá voi cứu nạn trên biển. Ngoài ra, dinh còn có các di sản văn hoá Hán - Nôm, các hoành phi và câu đối trên chiếc chuông đồng hơn 140 năm. Dulichgo

Đến tham quan dinh, qua khỏi cổng tam quan về phía bên trái là Ngọc Lân Thánh Địa - khu đất rộng để mai táng cá ông, phía bên phải là nhà trưng bày cốt ông Nam Hải - nơi lưu giữ bộ xương cá ông (cá voi lưng xám) khổng lồ với chiều dài 22m, nặng 65 tấn, được phục dựng gần như nguyên vẹn.

Đi tiếp vào bên trong bạn sẽ thấy bàn hương án thờ thần Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Tôn Thần (hay còn gọi là thần Nam Hải - cá ông), bên trái thờ Thủy Long Thánh Phi nương nương tôn thần, và bên phải thờ Hi Hoàng Thái Hiệu tiên sư tôn thần. Đây là nét khác biệt so với các dinh thờ khác ở miền Trung. Cho đến ngày nay, khu vực giữa dinh lưu giữ hơn 100 bộ xương cá voi, gần một nửa trong số đó có niên đại từ 100 đến 150 năm, có những bộ xương to được thờ phụng tôn nghiêm.

Phía sau chánh điện thờ "Tiền hiền hậu hiền, tiền vãng hậu vãng, tiền tạo hậu tạo" - chỉ những người có công khai phá, lập ra làng chài. Tại gian nhà này, du khách sẽ được dịp cầm thử ống ghè - vốn là lọ gốm cổ - cao 20cm, miệng rộng 12cm. Dulichgo

Theo truyền thuyết về cá ông, khi xây xong dinh, trời bão dông suốt ba ngày mới quang, Một số ghe, tàu của ngư dân đánh cá bị kẹt ngoài khơi, được cá ông cứu giúp, riêng cá ông tử nạn vì đuối sức khi đưa tàu của ngư dân vào bờ an toàn.

Các nhà khoa học giải thích về hiện tượng cá ông cứu người là do khi mưa bão, cá ông bị sóng lớn vùi dập nên phải tìm điểm tựa để nương mình chống chọi với phong ba, bão táp. Tàu thuyền của ngư dân được cá ông nương vào trở nên vững hơn. Cuối cùng cả hai sẽ được sóng đưa đẩy vào bờ. Có khi cá ông đuối sức phải lụy, có khi cá ông an toàn trở ra biển khơi khi biển bớt sóng gió.

Thông tin thêm:

- Cách di chuyển: Dinh Vạn Thủy Tú cách trung tâm thành phố Phan Thiết khoảng 1 km, tọa lạc ngay góc đường Ngư Ông và Phan Chu Trinh, thuộc phường Đức Thắng, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Giá vé tham quan: người lớn 10.000 đồng, trẻ em 5.000 đồng, đi theo đoàn sẽ có thuyết minh viên tại điểm (miễn phí).
- Giờ mở cửa: từ 7h đến 17h.

Theo Phan Ngọc Hạnh (Vnexpress)
Du lịch, GO!

Sunday, January 18, 2015

Về Châu Giang thăm thánh đường Mubarak

Văn hóa của cộng đồng người Chăm ở Nam Bộ được thể hiện trong ăn uống, trang phục và đặc biệt ở các thánh đường. Ước tính hiện nay ở An Giang có khoảng 12.700 người Chăm sinh sống, thường cư trú theo các triền sông, vì cách cư trú này phù hợp với công cuộc đánh bắt thủy hải sản của họ.

Mặc dù có cùng nguồn gốc nhưng người Chăm ở Bình Thuận và Ninh Thuận (miền Trung) đa số theo đạo Bà La Môn, còn gọi là Chăm Bàni, còn người Chăm ở An Giang phần lớn theo đạo Hồi, còn gọi là Chăm Islam, với những thánh đường mái vòm đặc trưng. Trong đó không thể không nhắc đến thánh đường Mubarak tọa lạc trên một sở đất rộng, nằm bên bờ sông Châu Giang hiền hòa (thuộc xã Phú Hiệp, huyện Phú Tân, An Giang), cách thị xã Châu Đốc bởi bến phà Châu Giang.

Có lịch sử lâu đời, thánh đường Mubarak được xây từ năm 1750 bằng gỗ lợp lá. Năm 1922, thánh đường được xây kiên cố hơn với tường vôi, lợp ngói. Theo thiết kế bởi kiến trúc sư Mohamet Amin, thánh đường Mubarak nhìn từ xa giống như các đền thờ cổ của Ba Tư, Ấn Độ với cổng chính hình vòng cung, uy nghi trước khoảng sân rộng. Dulichgo

Du khách đến đây sẽ cảm nhận được một lối kiến trúc hoàn toàn khác xa với các kiểu kiến trúc của chùa Hoa, chùa Việt hay chùa Khmer mà mình đã có dịp chiêm ngưỡng. Điều đầu tiên đập vào mắt là cổng chính của thánh đường. Nó có hình vòng cung, phía trước và trên nóc có một tháp lớn hai tầng, nóc tháp hình bầu dục, dưới chân tháp có hình trăng lưỡi liềm và ngôi sao tượng trưng cho đạo Hồi.

Bốn góc trên nóc thánh đường đều có bốn tháp nhỏ, giữa nóc có hai tháp bầu tròn nhô cao. Từ cửa chính của thánh đường trở ra hai bên, mỗi bên có hai vòm hình vòng cung nhọn đầu. Bên hông thánh đường, phía tay trái và tay phải, mỗi bên cũng có sáu vòm hình vòng cung nhọn đầu.

Nhiều đàn ông Chăm đi lại, đầu đội mũ vải, mình mặc áo thun hoặc áo sơmi nhưng bên dưới lại vấn xà rông. Không gian bên ngoài thánh đường hết sức rộng lớn và thoáng mát. Du khách vừa chiêm ngưỡng thánh đường, vừa có thể phóng tầm mắt nhìn phong cảnh xung quanh.

Sau một ngày đường mệt mỏi, đứng trước không gian thoáng đãng này, du khách sẽ thấy lòng mình lâng lâng lạ thường. Những cơn gió từ mặt sông Châu Đốc thổi vào làm mát rượi cả người.

Khi bước vào trong thánh đường, bốn bề của bức vách bên trong thánh đường được tô điểm bởi màu trắng và xanh lợt, làm dịu đi cái nắng như đổ lửa bên ngoài. Nền được lót gạch bóng lộn và những chùm đèn điện được treo trên trần như tô điểm thêm cho thánh đường vẻ lung linh huyền ảo. Bất giác, nhiều du khách đi thật nhẹ, nói thật khẽ..., tất cả nhằm giữ gìn vẻ tôn nghiêm nơi thánh đường. Dulichgo

Do đặc điểm của đạo Hồi nên bên trong không có tượng thờ bất kỳ vị thần thánh nào nhưng có hậu tẩm là nơi chức sắc đứng hướng dẫn tín đồ làm lễ. Có “minbar” là nơi thầy giảng giáo lý trong buổi lễ thứ Sáu hằng tuần. Bên góc thánh đường có tháp cao để chức sắc kêu gọi tín đồ đến hành lễ.

Mubarak được xem là một thánh đường tiêu biểu có lối kiến trúc hết sức độc đáo của cộng đồng người Chăm ở Châu Giang.

Hằng năm thánh đường Mubarak có ba kỳ lễ lớn: Lễ Roja vào ngày 10-12 Hồi lịch, lễ Ramadan kéo dài từ ngày 1 đến 30-9 Hồi lịch (còn gọi là tháng ăn chay), lễ sinh nhật của Giáo chủ Muhammed (người sáng lập đạo Hồi) vào 12-3 Hồi lịch. Trong những dịp lễ hội này, cư dân từ mọi nơi về tham gia sinh hoạt lễ hội rất đông, tạo thành những nét sinh hoạt văn hóa truyền thống độc đáo và thú vị của cộng đồng người Chăm ở miền Tây Nam Bộ.

Thánh đường Mubarak được Bộ Văn hóa công nhận là kiến trúc nghệ thuật vào tháng 12-1989. Vì lẽ đó, làng Chăm Châu Giang nói chung, thánh đường Mubarak nói riêng đã trở thành một điểm tham quan lý tưởng cho du khách gần xa.

Theo Trần Kiều Quang (báo Pháp Luật)
Du lịch, GO!

Tuesday, January 13, 2015

Giai thoại về đôi đá voi ở Yang Tao

(TPO) - Đôi hòn đá có hình dáng giống chú voi khổng lồ ở xã Yang Tao, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk được biết đến như biểu tượng thần tình yêu trong nhận thức của đồng bào Tây Nguyên. Ngoài những dấu chân bí ẩn hằn sâu trên mặt đá, sự dịch chuyển lạ lùng của cặp đá voi tới nay vẫn chưa ai giải thích được.

Giai thoại Đá Voi nuốt mỹ nữ

Những ngày đầu năm trời mát dịu. Từ thành phố Buôn Ma Thuột, chúng tôi vượt 60 km theo QL 27 về phía nam đến huyện Lắk. Cảnh sắc hai bên đường vòng vèo uốn lượn khiến người qua không khỏi mê mẩn bởi những rừng trúc xanh mượt, ngọn vút cong đung đưa theo gió. Thỉnh thoảng, xe phải giảm tốc độ bởi những đàn bò vài chục con đủng đỉnh qua đường. Tất cả như bức tranh sinh động về cuộc sống thanh bình giữa núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ.

< Dưới chân dãy núi Chư Yang Sin, thuộc địa phận xã Yang Tao, huyện Lăk, tỉnh Đăk Lăk có một tảng đá rất đặc biệt được người dân trong vùng gọi là đá Voi Mẹ. Nhiều người tin rằng, đây chính là tảng đá nguyên khối lớn nhất từng được biết đến ở Việt Nam.

Vừa chạm địa phận xã Yang Tao, huyện Lắk,  trước mắt chúng tôi đã hiện ra tảng đá lớn sừng sững giữa bạt ngàn màu xanh cỏ cây. Đó chính là Đá Voi Cha được nhắc đến trong câu chuyện kỳ lạ của đồng bào bản địa xã Yang Tao. Dulichgo

< Dù được gọi là một tảng đá, nhưng "Voi Mẹ" gây choáng ngợp cho bất cứ ai được chiêm ngưỡng vì kích thước của nó lớn bằng cả một quả núi.

Định cư trong một thung lũng trù phú, cây cối xanh tốt quanh năm, cuộc sống của các buôn làng M’Nông nơi đây yên bình, no ấm với hai mùa gieo gặt. Người M’Nông rất mến khách. Khi được hỏi về thần đá hiển linh với hòn đá hình dáng khổng lồ giống chú voi, già Y’Ruê Ê Nuôl (73 tuổi) vui vẻ, cởi mở chia sẻ: “Chẳng ai biết Đá Voi Cha và Đá Voi Mẹ có từ bao giờ. Chỉ biết từ đời ông, đời cha của mình đã thấy nó ngự giữa cánh đồng. Hình dáng giống với những con voi nên dân làng gọi là Thần Đá Voi.

< Chưa có đo đạc cụ thể, nhưng theo ước lượng, tảng đá cao trên 30m, bao phủ diện tích hàng nghìn m2 và có thể nặng hàng vạn tấn.

Người dân trong vùng đối với đá voi luôn trân trọng, nâng niu, không bao giờ xâm hại. Nghe ông bà kể lại thì ban đầu, đá rất mềm, giống như một bãi đất bùn được đùn lên từ mặt đất. Mọi người thi nhau trèo lên mình đá chạy nhảy, đùa giỡn vô cùng thích thú. Sau đó, đá bỗng dưng cứng lại như bây giờ.

< Màu sắc và đường nét uốn lượn của tảng đá gợi liên tưởng đến tấm lưng của một chú voi khổng lồ.

Trên lưng đá vẫn lưu giữ dấu chân của những người đã từng vui đùa trên đó. Sau nhiều lần dịch chuyển, Đá Voi Cha đã tiến về sát chân núi. Còn Đá Voi Mẹ lúc đầu, nằm ở phía bắc, hướng mặt ra hồ Lăk. Nhưng chỉ sau một đêm, người ta đã thấy tảng đá khổng lồ này hiện ra sừng sững trên một cánh đồng bằng phẳng giữa thung lũng rộng mênh mông. Hiện nay, cạnh đó, vẫn còn hai mương nước chạy dài song song, được cho là bằng chứng xác thực về đường dịch chuyển của đá.

< Hố trên đỉnh đá Yang Tao được cho là nơi nuốt mỹ nữ.

Già kể cho chúng tôi nghe giai thoại: Ngày xưa, có hai chị em gái là H’Hoa và H’Thảo con nhà phú ông Y’ Thui Ê Đuôn thuộc hàng giàu có trong buôn. Một buổi chiều gió mát hiu hiu, hai chị em trèo lên mình Đá Voi Cha chơi say sưa không muốn về nhà. Đúng lúc thần đá chuyển mình sang thể cứng.

Hai bàn chân cô chị H’Hoa bỗng nhiên lún sâu vào đá, cố kéo lên mãi không được. Càng kéo càng lún chìm trong đá. Ông Y’ Thui huy động toàn bộ sức lực những lực điền, dùng đến cả voi, trâu làm sức kéo nhưng vẫn không có kết quả. Sau 7 ngày 7 đêm, cô gái 17 tuổi đẹp như tranh của buôn bị nuốt gọn vào trong mình đá không để lại dấu vết. Dulichgo

< Chinh phục đá Voi Mẹ không khó. Từ mặt đất, chỉ mất khoảng 15 phút để lên đến đỉnh cao nhất của tảng đá bằng cách leo qua những sườn dốc thoai thoải.

Đêm đó người nhà cô gái đồng loạt chiêm bao thấy H’Hoa vận váy đẹp lung linh nói với người thân rằng, cô đang sống rất hạnh phúc với Yang Tao (thần đá). Cô nhắn bà con không phải buồn đau, thần đá sẽ phù hộ cho dân bản. Câu chuyện đó cứ lung linh mãi theo tảng đá và theo dân bản cho đến bây giờ.

Những dấu tích kỳ lạ trên thân Đá Voi

< Dù vậy, bị nung nóng cả ngày dưới ánh mặt trời mùa hạ, nhiệt độ bề mặt tảng đá có thể lên đến 60-70 độ C, làm bỏng chân những ai có ý định leo bằng chân trần.

Đến gần hơn hòn đá huyền thoại, chúng tôi thấy hình dáng của Đá Voi Cha quả nhiên giống một con voi khổng lồ giữa thung lũng Yang Tao thơ mộng, mặt hướng về phía những dãy núi điệp trùng của Tây Nguyên hùng vĩ. Dưới chân tảng đá này là vô số những đóa hoa dại, bướm bay lượn xung quanh tạo nên khung cảnh thiên nhiên tuyệt vời nơi hoang dã. Còn Đá Voi Mẹ nằm cách đó chừng 5 cây số giữa cánh đồng lúa mênh mông.

< Theo người dân địa phương: vào những ngày gió mạnh, việc leo lên đỉnh Voi Mẹ là điều khá mạo hiểm...

Bà H’Thoan (66 tuổi) sống ở cánh đồng Yang Tao, mưu sinh ngay cạnh “thần đá”. Những dấu tích của đá, bà tường tận từng chi tiết. Bà chỉ cho tôi xem những dấu chân bí ẩn nào đó còn in hằn trên mình đá, và nói: “Không biết đó là dấu chân của ai, có từ bao giờ, chỉ biết rằng, khi thấy hòn đá, dân làng đã thấy các dấu tích đó rồi.

< ... vì trên tảng đá có rất ít chỗ bám, người leo có thể bị gió cuốn lăn khỏi vách đá. Do vậy, bạn hãy cẩn thận.

Tôi nhìn thấy rõ từng chi tiết dấu chân con người rải rác từ chân lên tới thân hòn đá. Ngoài ra, còn có dấu vết của các loại chân chim, chân chó, bò, dê… lác đác khắp nơi, khô khốc, sâu hoắm. Thấy tôi định leo lên, bà H’ Thoan vội ngăn lại: Mùa này gió to không nên trèo lên lưng Đá Voi Cha, gió sẽ quật ngã đó. Những người già trong làng bảo rằng, cái hố sâu màu trắng trên lưng Đá Voi Cha, chính là hố đã nuốt cô H’Hoa vô bụng đá.

< Từ trên "đầu" Voi Mẹ, có thể quan sát nhiều thắng cảnh trong vùng như hồ Yang Reh ở phía Bắc.

Thấy chúng tôi quan sát kỹ đá voi, anh Y Niên H’Brông (32 tuổi) chăn bò gần đó lại gần góp chuyện: Đá Voi Cha thiêng lắm, đối với các đôi trai gái của đồng bào mình thì đó là một vị Thần đầy quyền năng, có thể bảo vệ và che chở cho tình yêu của họ vượt qua mọi sóng gió trong cuộc đời, vững bền mãi mãi.

< ... hay dãy Chư Yang Sin, mái nhà của Tây Nguyên ở mạn Đông Nam.

Họ thường đến đá Voi Cha, kể cho Thần Đá nghe những câu chuyện tình yêu với niềm tin Thần thấu hiểu tất cả, sẽ mang người ấy đến cho mình.  Chính Y Niên cũng đã từng ngồi hàng giờ kể lể với đá voi cha về cô gái mà mình đã đem lòng thầm thương trộm nhớ. Không ngờ “thần tình yêu” chỉ lối đưa đường cho cô ấy đến bên Đá Voi Cha nơi anh ngồi,  “say nhau” từ phút ấy!

< Dù là một tảng đá "độc nhất vô nhị", nhưng cho đến nay Voi Mẹ chưa nhận được nhiều sự quan tâm của giới khoa học.

Câu chuyện ly kỳ không chỉ dừng lại ở những vết tích lồi lõm của thời gian trên mình đá. Già làng Y Ruê chỉ cho tôi những vết tích được cho là “vết máu” loang lổ trên thân hòn đá :”Trước đây đã có một số người mang dụng cụ đến với ý định khai thác Đá Voi Cha. Nhưng chiếc dùi đục bằng sắt vừa chạm vào đá, người ta đã thấy một dòng máu trào ra ngay chỗ vừa đục. Quá hoảng sợ, họ vội vã bỏ chạy và chẳng bao giờ dám quay trở lại đây nữa. Cũng kể từ đó, người ta thấy Đá Voi Cha không còn di chuyển nữa. Dulichgo

< Người dân địa phương cũng như du khách xa gần đang rất muốn biết, liệu Voi Mẹ có thật sự là tảng đá nguyên khối lớn kỷ lục của Việt Nam hay không.

Xung quanh những câu chuyện ly kỳ về Đá Voi Cha và Đá Voi Mẹ, ông Y Khương H’Long, Phó chủ tịch xã Yang Tao, cho biết: Hai tảng đá này rất gắn bó với người dân trong vùng qua những truyền thuyết nối từ đời này sang đời khác. Trước đây, người dân từng lập miếu thờ dưới chân tảng đá được cho là Đá Voi Cha, nhưng chính quyền vận động bà con tháo dỡ để tránh mê tín dị đoan. Từ đó, việc thờ cúng ở đây không còn nữa, nhưng người dân vẫn luôn tin vào sự linh thiêng của những tảng đá này.

< Nằm không xa con đường dẫn đến hồ Lăk - danh thắng nổi tiếng của Tây Nguyên, đá Voi Mẹ là một địa điểm rất đáng để dừng chân thưởng ngoạn.

Xung quanh chân đá, người ta không thể giải thích được vì sao lại có vô số những mạch nước ngầm trong vắt, mát lạnh ngày đêm chảy róc rách. Bà con đi làm đồng thường dùng nước đó uống, cảm giác như được Giàng đá bảo hộ và mang lại nhiều may mắn.

Nói về cặp đá thiêng của dân tộc mình, ông Y Khương, Phó chủ tịch UBND xã Yang Tao, khẳng định:

< Cách đá Voi Mẹ khoảng 5km về phía Nam là đá Voi Cha, cũng là một tảng đá nguyên khối có kích cỡ rất lớn. Nhỏ hơn Voi Mẹ, nhưng Voi Cha có phần bí ẩn hơn khi được gắn với những câu chuyện huyền thoại ly kỳ của vùng hồ Lăk...

“Đá Yang Tao là linh hồn của đồng bào M’Nông. Họ tín ngưỡng đá như một vị thần che chở và bảo vệ sự sống của buôn làng. Hòn đá không chỉ là chứng tích của lịch sử mà còn là dấu ấn bản sắc văn hóa buôn làng. Đá Yang Tao được bảo vệ và giữ nguyên hiện trạng nhiều đời qua là nhờ bà con dân bản rất có ý thức. Chúng tôi mong muốn các nhà khoa học, nhà địa chất sẽ tìm đến để nghiên cứu về loài đá khổng lồ trên mình nó mang những vết tích như dấu chân hóa thạch này. Hy vọng sẽ tìm ra những lời giải, những căn nguyên chính xác về sự hình thành cũng như những dấu tích trên hòn đá, chứ không phải dựa vào truyền thuyết như bây giờ”. Vị trí đá Voi >

Theo Nguyễn Thảo (Báo Tiền Phong), ảnh Kiến Thức
Du lịch, GO!

Saturday, January 10, 2015

Tam Đảo với nét đẹp tâm linh

(TBKTSG) - Rời trung tâm thị trấn Tam Đảo (thành phố Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc), đi một đoạn vòng vèo qua con dốc ven sườn núi rợp bóng cây rừng, du khách đôi lúc bị màn mây mù tuyệt đẹp lùa qua trong tiếng ve rền mùa hạ. Nhưng đẹp nhất là lối đi lót đá xanh uốn khúc như rồng lượn dẫn đưa lên ngôi đền Chúa.

< Một góc chùa Vàng với đặc trưng mái hình đao.

Lối đi có hai hàng tay vịn bê tông cốt thép càng lúc càng lên cao giữa hai cánh rừng trúc thơ mộng. Những thân trúc thẳng cao phủ trùm bóng mát. Đúng là một cõi thần tiên! Mà thần tiên thật vì lên hết 300 bậc cấp là khách đã tiếp cận được một phần thế giới tâm linh Tam Đảo.

Đền Chúa là ngôi đền thờ Bà Chúa Thượng Ngàn, nơi nổi tiếng nhất của cả thị trấn đất đồi Tam Đảo. Theo truyền thuyết, hồi đầu thế kỷ 20, khi Pháp khám phá ra thung lũng xinh đẹp nầy, biến thành nơi nghỉ mát dành cho quan chức của họ, thì họ cho làm các con đường. Khi đó có một nhà thầu phụ người Việt đã bỏ tiền xây đền Chúa. Theo lời truyền khẩu của dân địa phương và một số tư liệu, đây là nơi thờ Bà Chúa Thượng Ngàn. Dulichgo

Có con đường dốc thoai thoải, cảnh trí đẹp, nổi tiếng linh thiêng, đền Chúa thu hút nhiều khách thập phương đến viếng, lễ bái. Hấp dẫn nhất là những ngày mồng Một, ngày rằm hàng tháng, đền Chúa đều có hầu đồng. Trong tiếng trống, tiếng đàn, tiếng sáo, tiếng nhị, tiếng phách hối hả rền vang của phường chầu văn là giọng hát qua máy vi âm bổng trầm như kể lể, tha thiết, lê thê của chàng cung văn, các bà, các cô đồng xinh đẹp áo quần lộng lẫy biểu diễn những màn khua hương, múa hoa, múa kiếm, cỡi ngựa... rất mềm mại và điêu luyện.

Phía sau đền Chúa là đền Quốc Mẫu thờ Bà Âu Cơ, phu nhân Lạc Long Quân, thủ nhang Phạm Thị Liên, 80 tuổi, cho biết như vậy. Thủ nhang Liên cho biết thêm đền trước kia ở Phố Đình, trung tâm thị trấn, bị phá, một số người dân đem tượng Bà giấu trong đền Chúa. Năm 1992, một bà giàu có mua mảnh đất nầy, xây đền, đưa tượng Bà qua thờ. Từ đó, với sự phù hộ linh thiêng của Đức Bà, người phụ nữ giàu tâm đức ấy ngày càng thêm phát đạt.

< Cổng Đền Bà Chúa Thượng Ngàn.

Vào đền Quốc Mẫu, có bàn thờ vị Đệ nhất vương cô - Đệ nhị vương cô, là hai hầu cận Bà khi xưa. Bên phải thờ Ngũ vị Tôn Ông - 5 ông tướng giỏi nhất của Bà. Bên trái thờ Tứ Phủ Thánh Bà, là những người trông coi núi vàng của đất nước. Hậu tổ thờ Quốc Mẫu Vua Bà. Hằng năm, cứ đến ngày “kiệt Mẫu”, mồng 3 tháng Ba âm lịch - ‘Mồng tám giỗ Cha, mồng ba giỗ Mẹ’ - đền tổ chức cúng vía.

Giữa sân đền có một cây cột vuông màu trắng cao vút, một mặt khắc dòng chữ: “Nguyện xin hòa bình đến với toàn thể nhân loại trên thế giới”. Ba mặt kia khắc các dòng chữ Nhật, Anh và Pháp cùng một nội dung. Cột nầy do vợ chồng một người Ấn Độ xây tạ ơn Bà đã cho họ một đứa con hằng mong mỏi. Từ đó người ta đồn rằng đền Quốc Mẫu Vua Bà linh thiêng, là nơi cầu xin tình duyên và con cái. Hiện nay, với sự cúng hiến tiền của người hảo tâm, đền đang được xây dựng thêm, khang trang hơn.

< Hầu đồng Đền Bà Chúa Thượng Ngàn.

Từ trị trấn Tam Đảo xuống chân núi, khoảng 2km, ngoặc qua sườn núi một đỗi gặp đền Trần - di tích lịch sử tỉnh Vĩnh Phúc. Ẩn mình trong những cánh rừng thông tĩnh lặng, Đền Trần thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo.

Bà Nguyễn Thị Thư, 78 tuổi, thủ nhang, cho biết đền xây dựng vào thế kỷ XV, khoảng năm 1952-1953, quân Pháp bắn phá ngôi đền nhưng không gây hại. Năm 2002, đền được nâng cấp trên nền cũ, trong khoảnh đất rộng khoảng 300m2. Ngày 20 tháng Tám âm lịch hàng năm đền có lễ ngày vía Thánh. Hai bên Đức Thánh Trần thờ hai cô con gái của ngài. Dulichgo

Xuống tới cây số 18 là ngôi đền Nhị Vị Vương Cô Nhà Trần. Cửa chính đền có cặp liễn đối, ghi: “Vạn thế lưu truyền hiển lưu danh. Ức niên đăng hỏa như minh nguyệt”. Bà thủ nhang Trần Thị Như, 64 tuổi, kể rằng, đền thờ Địa Mẫu, 12 cô Sơn Trang, hậu cung thờ Cô Đệ Nhất và Cô Đệ Nhị - 2 cô con gái Đức Thánh Trần. Theo truyền thuyết, Đệ Nhị Vương Cô (Vương Bà), Đại Hoàng Công Chúa Trần Thị Tĩnh là thứ nữ của Trần Hưng Đạo. Sợ phạm luật nhà Trần (chỉ gả bán trong hoàng tộc), Đức Thánh cho cô ra làm con nuôi, để tiện gả cho Phạm Ngũ Lão. Lễ vía đền cùng ngày tổ chức lễ vía Đức Thánh Trần, có hầu đồng rôm rả.

< Tượng phật chùa Vàng, biến ảo qua từng góc nhìn.

Trong cõi tâm linh nầy của Tam Đảo còn có chùa Vàng. Từ đền Chúa qua đền Quốc Mẫu Vua Bà, phía sau là khoảng sân rộng, nơi trang trọng đặt rất nhiều pho tượng đá trắng. Mỗi vị đứng hoặc tọa thiền trong một tư thế khác nhau, vị vui vẻ hiền từ, vị trầm tư ưu sầu cho nhân loại... Từ đây có một cầu thang dài 121 bậc đá xanh, hai hàng tay vịn cũng bằng đá xanh chạm khắc hoa văn đẹp mắt dẫn lên. Bốn góc chùa là bốn mái hình đao cong vút, được xây mới vào năm 2010. Đây là một ngôi chùa tận dụng ưu thế đá núi có sẵn của địa phương trong một số công trình.

Chùa còn sử dụng gỗ lim, gỗ đinh làm cửa, chạm khắc hoa văn tinh xảo. Cột, trính, rui, mè đều làm bằng bê tông cốt sắt bọc đồng. Đáng chú ý là pho tượng Phật Thích Ca bằng đồng nặng cả tấn, đội mão dát vàng, tĩnh tọa trên đài sen bằng bạc. Do khúc xạ của ánh sáng nên khách hành hương thấy tượng phật lúc màu vàng, khi màu tím, rồi màu xanh thẫm... tùy theo vị trí đứng nhìn.

Tam Đảo tĩnh lặng, càng thêm u tịch với những đền chùa trầm mặc, tạo thành chốn linh thiêng, nơi dưỡng tâm của bất cứ du khách nào. Ngoài giá trị tâm linh, các ngôi đền ở Tam Đảo còn thể hiện lòng thành kính biết ơn những bậc khai quốc, anh hùng dân tộc một cách trân trọng. Cùng với đó là tục hầu đồng đậm đà bản sắc văn hóa dân gian phi vật thể độc đáo.

Theo Phù Sa Lộc (Thesaigontimes)
Du lịch, GO!

Sunday, January 4, 2015

Chùa Kh'Leang ở Sóc Trăng

(VHPG) - Khleang là một trong những ngôi chùa Khmer cổ nhất ở Sóc Trăng được xây dựng vào giữa thế kỷ 16.
Chùa Kh'Leang tọa lạc trên một khuôn viên rộng 3.825m2, được xây dựng từ năm 1533. Lúc đầu chỉ là ngôi chùa lợp lá sau nhiều lần trùng tu được xây cất bằng gạch ngói. Kiến trúc hiện nay là do lần trùng tu cách đây hơn 80 năm.

Sóc Trăng là vùng đất có nhiều chùa chiền, gần như là tỉnh có nhiều ngôi chùa nhất của Đồng bằng sông Cửu Long, hầu hết là chùa với lối kiến trúc mang đậm phong cách Khmer Nam Bộ. Chỉ riêng ở khu vực thành phố Sóc Trăng đã có hơn 20 ngôi chùa. Chùa với đồng bào Khmer mang ý nghĩa rất thiêng liêng. Ngôi chùa, ngoài việc dùng để cử hành các nghi lễ tôn giáo, còn là nơi lưu giữ các giáo lý nhà Phật; các tác phẩm văn học nghệ thuật; là nơi diễn ra các lễ hội mang tính văn hóa đặc trưng của dân tộc Khmer.

Chùa Kh'leang là một trong những chùa Khmer cổ kính và đẹp nổi tiếng ở Sóc Trăng. Vị trí chùa ngay trung tâm thị xã, bên bờ sông Trăng thơ mộng chia đôi thị xã, trong một khuôn viên rộng lớn, được bao bọc bằng hàng rào, với cổng ra vào được trang trí những hoa văn cổ truyền Khmer, dưới những tán cổ thụ mát rượi. Dulichgo

Theo truyền thuyết, Khleang được cho là một trong những chùa đầu tiên được xây dựng đầu tiên trong vùng, khoảng năm 1532; khi ấy Sóc Trăng hãy còn là vùng đất hoang vu, chưa được khai phá, dân cư rất thưa thớt, còn cách xa sự can thiệp của các vương triều cai trị.

Ban đầu chùa được xây dựng bằng nguồn vật liệu tại chỗ như tre, gỗ, lá, từ nguồn đóng góp tự nguyện của các lưu dân trong vùng. Những chứng tích của buổi đầu thành lập đã không còn nữa. Toàn bộ kiến trúc hiện tại của chùa được dựng mới lại từ những năm cuối Đệ nhất thế chiến.

Như nhiều ngôi chùa Khmer trong vùng, chùa Khleang, ngoài chính điện giữa vai trò trung tâm, còn có các kiến trúc phụ khác như Sa-la (nhà hội của các vị sư sãi và tín đồ, là tín đồ nơi dâng cơm cho các sư vào các dịp lễ), nhà ở của sư trụ trì (cũng là nơi lưu trữ kinh kệ, sách báo và tài liệu của chùa), nhà ở của các vị sư (am), các tháp chứa cốt, nhà khách, v.v...

Đặc biệt trong khuôn viên chùa còn có cả một ngôi trường dạy tiếng Khmer bậc trung cấp. Đẹp nhất, uy nghi nhất trong số đó là ngôi chính điện, được xây dựng mới lại năm 1918, chiều dài 24m, chiều rộng 13m, dựng trên nền cao hơn mặt đất khoảng 2m. Dulichgo

Cấu tạo nền kiểu bậc tam cấp, độ rộng mỗi bậc bậc từ 4 - 7m và cao khoảng 1m; giữa các bậc có hàng rào bao xung quanh, có 4 cổng được trang trí hoa văn rực rỡ màu sắc. Bậc ba là mặt bằng của chính điện, cách vách chính điện khoảng 1,5m. Các bậc này tạo thành các sân nội bộ, là nơi sanh hoạt của các tín đồ vào những dịp lễ chùa.

Bộ mái chùa được xây dựng theo hình thức tam cấp và mỗi cấp lại có 3 nếp. Nếp giữa lớn hơn nếp phụ ở hai bên và không có tháp nóc chùa. Các góc mái chùa được đắp hình đuôi rắn cong vút.

Yeak (Chằn) trong các chuyện cổ Khmer là nhân vật tượng trưng cho cái Ác. Yeak có dáng vẻ của một người mang bộ mặt dữ tợn, miệng to, răng nanh dài, mắt lồi, lông mày xếch, mình mặc áo giáp, đầu đội mũ nhọn và tay cầm cái chày dài. Trong văn hóa Khmer, Yeak đã được đức Phật cải hóa và đặt đứng hai bên bậc thềm ở phía trước chánh điện để bảo vệ ngôi chùa

Krud hay Garuda là hình tượng một loại chim thần có mình người; đầu, chân và hai cánh của chim, mỏ ngậm một viên hồng ngọc. Hình tượng Krud được án ngữ ở chỗ tiếp giáp đầu cột với đuôi mái chùa để trấn át con rắn ở trên mái chùa.

Là ngôi chùa của Phật giáo Nam tông Kh'mer nhưng phong cách kiến trúc - điêu khắc không chỉ thuần Kh'mer mà còn là sự kết hợp của văn hóa Hoa và Việt thể hiện bằng các dòng Hán tự được khắc trên thân các cây cột trong ngôi chánh điện và bao lam lại thể hiện phong cách và họa tiết VN.

Ngoài "tam cấp" ở nền, mái chùa cũng được thiết kế theo kiểu tam cấp rất độc đáo, với mái có các chỏm nhọn, độ dốc cao, có gắn các phù điều chim thú trong sự tích Phật giáo. Toàn bộ khối chính điện được dựng bởi 60 cột trụ, chia làm 6 hàng, mỗi cột đều có hoa văn viền ở phần đầu và chân cột chạm hình hoa sen, ở giữa là phần gỗ sơ mài vẽ hình rồng hoa lá bằng nhũ vàng theo mô-típ Trung Hoa. Dulichgo

Khách tham quan, sau khi qua cổng chùa, tiến vào khuôn viên rợp bóng những cây cổ thụ, nhiều nhất là cây thốt nốt, có thể thấy quần thể kiến trúc chính điện nổi bật giữa khuôn viên chùa. Phía trước chính điện là 2 tòa tháp chứa di cốt của các vị trụ trì. Để lên chính điện, khách phải vượt qua các cổng của từng bậc thềm - nơi có các tượng thần giữ cửa. Các tượng này được chế tác dựa theo truyền thuyết Khmer, được phục sức lối Khmer cổ với các hoa văn hình vuông, tròn, chữ nhật, thoi, tam giác,...

Kế tiếp là đến cửa ra vào chính điện. Các cửa này được làm bằng gỗ - nguyên thân gỗ xẻ, khắc cảnh giao đấu giữa hai nhân vật thiện – ác trên nền khung được trang trí hoa văn đến từng chi tiết, với bố cục gọn gàng, đường nét uyển chuyển, uốn lượn, thể hiện trình độ chạm khắc gỗ cao của các nghệ nhân. Bên trong chính điện, bệ thờ và nơi đặt các tượng ở hai gian trong cùng.

Chùa có khoảng 45 tượng Phật Thích Ca làm từ nhiều chất liệu như ciment, gỗ, đồng, đá trắng, đất nung,... hầu hết được chạm trổ, sơn son thiếp vàng. Giữa chính điện là tượng Phật thích ca ngồi thiền định trên đài sen cao 6,8m được trang trí nhiều tầng hoa văn hình cánh sen và lửa; mé trái là bức cửa võng bằng gỗ sơn son thiếp vàng trang trí đầy hoa văn hình chim muông hoa lá theo mô típ quen thuộc của người Kinh. Trần chính điện được trang trí các bức tranh sơn dầu vẽ hình tiên nữ đang múa trên bầu trời càng làm tăng thêm phần sinh động cho gian bên trong chính điện...

Với đường nét kiến trúc cân xứng, hài hòa, gắn liền với những tác phẩm nghệ thuật độc đáo, đa dạng và hầu hết đều thể hiện được những nét đặc trưng trong nghệ thuật truyền thống của người Khmer, chính điện chùa Khleang thực sự là công trình có giá trị về mặt nghệ thuật và thẩm mỹ. Giữa các mẫu trang trí nghệ thuật Khmer, ta còn bắt gặp tác phẩm của người Kinh ở bức cửa võng và của người Hoa trên các thân cột trụ. Điều này phản ánh sự giao thoa văn hóa giữa 3 dân tộc, trong quá trình cộng cư lâu dài đã kết hợp các yếu tố tinh hoa trong nghệ thuật, học hỏi lẫn nhau để cùng phát triển.

Nhờ đó, chùa Khleang được Bộ Văn Hóa – Thông tin công nhận di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia và là điểm tham quan hấp dẫn của cư dân trong vùng cũng như du khách gần xa.

Theo Vườn Hoa Phật Giáo, ảnh Vietlandmarks
Du lịch, GO!

Tuesday, December 30, 2014

Đình Trung Lương (Đà Nẵng)

(ĐNO) - Đình Trung Lương toạ lạc tại phường Hoà Xuân, quận Cẩm Lệ (Đà Nẵng). Làng Trung Lương, được hình thành trên xứ đất tục gọi là xứ Cồn Soi  được tách ra từ làng chính Khuê Đông, là một làng mới được thành lập vào khoàng giữa thế kỷ XIX, với diện tích khoảng 200 ha.

Theo địa giới, làng Trung Lương phía bắc giáp ngã ba sông Hàn, tây giáp Khuê Trung, đông giáp sông Cổ Cò, nam giáp làng Lỗ Giáng. Dân làng sống bằng nghề nông và soi đánh bắt cá ven sông. Lúc bấy giờ, có 5 tộc đến đầu tiên khai canh lập làng là tộc Huỳnh Ngọc, tộc Trần Phước, tộc Nguyễn, tộc Lê và tộc Hồ Văn.

Sau khi làng Trung Lương được thành lập một thời gian, với dân số đông và đủ điều kiện vật chất, các vị cao niên đứng đầu các tộc đã khởi xướng việc xây dựng đình làng. Được sự hưởng ứng và đồng thuận của dân làng là lấy ngôi miếu thờ Thái Giám để xây dựng Đình làng với diện tích khoảng 1000m2, được xây dựng theo lối kiến trúc tam gian, tứ vị (3 gian, 4 mái), vật liệu là đá cục, vữa thì bằng vôi trộn với nhớt bồ lời, gổ gồm có gỗ liêm và gỗ mít, hai loại gỗ này dùng làm cột, xà, xiên, trính… mái được lợp ngói vẩy cá và ngói âm dương. Những người có công đóng góp tiền của xây dựng đình đều được ghi khắc vào bia, nhưng do chiến tranh văn bia ghi công đức đã bị thất lạc.

Trải qua thời gian chiến tranh và thiên tai, đình làng đã bị hư hại, xuống cấp, con cháu các tộc họ đã nhiều đời kế tục sửa sang, trùng tu, tôn tạo lại ngôi đình, lần trùng tu gần đây vào năm 1994.

Đình được xây tường gạch, mái lợp ngói âm dương. Phần kiến trúc trang trí bên ngoài, trên nóc đỉnh trang trí hình “lưỡng long triều nguyệt”, hai bên mái hiên trang trí hình hai con phụng chầu vào chữ “Trung Lương”. Trên mái hiên có xây lầu giả, với nóc lầu xây hình cuốn thư, hình nậm rượu, các góc có hình đầu rồng. Phía ngoài sân là bình phong xây kiểu cuốn thư, mặt trước trang trí hình kỳ lân, mặt sau là hình cá chép hoá rồng, trên hai góc cuốn thư có hình hai con kỳ lân.Cổng tam quan, với các trụ cổng xây theo khối trụ vuông. Dulichgo

Hằng năm, đình làng thường tổ chức hát bội, hát hò khoan,cùng các trò chơi dân gian như kéo co, nhảy bao bố, đập om đất, đá gà, đẩy gậy. Về phần lễ, có lễ thả Long chu thuyền, lễ xuống đồng, lễ dựng nêu ngày tết,dân làng đã lấy ngày mùng 10 tháng 3 Âm lịch làm ngày phụng cúng hằng năm, gọi là ngày lễ cầu an và xuống đồng.

Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đình Trung Lương là nơi tổ chức học tập chính trị, quân sự do Mặt trận Việt Minh- chính quyền cách mạng ở địa phương tổ chức. Thời ký kháng chiến chống Mỹ, đình Trung Lương, còn được dùng làm cơ sở chỉ huy các đơn vị bộ đội và dân quân du kích vận chuyển vũ khí, lương thực, đánh vào sân bay ĐÀ Nẵng năm 1964, đánh vào sân bay Nước Mặn năm 1968, đồng thời, là nơi che chở, nuôi giấu cán bộ, bộ đội, du kích của địa phương.

Đình Trung Lương hiện nay, do chủ trương qui hoạch của thành phố nên đã di dời đến khu mới, đình đặt tại xã Hoà Xuân, quận Cẩm Lệ với một ngôi đình  bề thế, khang trang nằm giữa các khu dân cư mới, các kiến trúc vẫn theo như lối kiến trúc cũ cũng như các di vật được bảo quản , lưu giữ đầy đủ.

Hiện nay đình làng còn có 19 sắc phong, niên đại từ Minh Mạng đến Khải Định, cụ thể:

1.Sắc cho thần thành Hoàng, ngày 18 tháng 3 năm Khải Định thứ 2
2. Sắc cho ngài Khâm sai Bắc quân Đô đốc , ngày 8 tháng 6 năm Duy Tân thứ 5
3. Sắc cho tứ vị thánh nương Đại càn quốc gia Nam hải, ngày 11 tháng 8 năm Duy Tân thứ 3
4.  Sắc cho ngài Cao Các Quảng Độ, ngày 11 tháng 8 năm Duy Tân thứ 3
5.  Sắc cho ngài Cao Các, ngày 01 tháng 7 năm Đồng Khánh thứ 2
6.  Sắc cho tứ vị thánh nương Đại càn quốc gia Nam Hải, ngày 01 tháng 7 năm Đồng Khánh thứ 2
7. Sắc cho tứ vị thánh nương Đại càn quốc gia Nam Hải, ngày 24 tháng 11 năm Tự Đức thứ 33
8. Sắc cho các ngài Cao Các, Phi vận Tướng quân, ngày 24 tháng 11 năm Tự Đức thứ 33
9. Sắc cho thần Bạch Mã, ngày 02 tháng 11 năm Tự Đức thứ 5 Dulichgo

10. Sắc cho ngài Phi vận Tướng quân, ngày 25 tháng 9 năm Tự Đức thứ 3
11. Sắc cho nữ thần Thiên Y A Na, ngày 25 tháng 9 năm Tự Đức thứ 3
12. Sắc cho ngài Cao Các, ngày 25 tháng 9 năm Tự Đức thứ 3
13. Sắc cho ngài Cao Các ngày 26 tháng 12 năm Thiệu Trị  thứ 5
14. Sắc cho ngài Cao Các ngày 21 tháng 11 năm Thiệu Trị  thứ 3
15. Sắc cho ngài Phi vận Tướng quân, ngày 14 tháng 5 năm Thiệu Trị  thứ 3
16. Sắc cho ngài Phi vận Tướng quân, ngày 12 tháng 4 năm Thiệu Trị  thứ 3
17. Sắc cho nữ thần Thiên Y A Na, ngày 12 tháng 4 năm Thiệu Trị  thứ 3
18. Sắc cho nữ thần Thiên Y A Na, ngày 11 tháng 2 năm Minh Mạng thứ 2
19. Sắc cho ngài Phi vận Tướng quân, ngày 11 tháng 2  năm Minh Mạng thứ 2

Đình Trung Lương - phường Hoà Xuân Quận Cẩm Lệ được công nhận di tích văn hoá cấp thành phố vào ngày 30/8/2006

Theo Danang.gov
Du lịch, GO!

Sunday, December 28, 2014

Những ngôi chùa nổi tiếng tại Bình Thuận

(BTA) - Trên địa bàn tỉnh Bình Thuận hàng trăm ngôi chùa được xây dựng trong nhiều thế kỷ nay, trong đó có nhiều ngôi chùa cổ nổi tiếng về nghệ thuật kiến trúc kết hợp với thiên nhiên tươi đẹp tạo nên thắng cảnh. Có những ngội chùa gần biển, gần sông, có chùa nằm cheo leo trên đỉnh núi hoặc khuất trong rừng rậm hay ở tận đảo xa v.v...

Nghệ thuật trang trí điêu khắc tại các chùa, nhất là ở các chùa cổ là một trong những vốn văn hóa Phật giáo được lưu giữ qua nhiều thế hệ thể hiện trên những pho tượng, các mảng phù điêu đến các bài vị, hoành phi, câu đối đến nay vẫn còn nguyên giá trị lịch sử. Có thể thấy một bộ phận quan trọng cấu thành di sản văn hóa và danh lam thắng cảnh ở Bình Thuận là những ngôi chùa.

1. CHÙA NÚI

Còn gọi là Chùa Tà Cú, xây dựng chính thức vào năm 1879 do nhà sư Trần Hữu Đức trụ trì, tọa lạc trên núi Tà Cú ở độ cao 475m (hiện nay thuộc địa phận xã Tân Lập, huyện Hàm Thuận Nam). Trước kia ngôi chùa chỉ là một thảo am nhỏ bằng gỗ, tranh, nứa. Mãi sau này, từ ngôi chùa cổ ban đầu tách thêm một ngôi chùa ở bên dưới gần đó. Để phân biệt, chùa trên có tên là Linh Sơn Trường Thọ, chùa dưới gọi là Linh Sơn Long Đoàn và dân gian gọi chung là Chùa Núi.

Năm 1872 nhà sư Trần Hữu Đức (1812 - 1887) pháp danh Thông âm, từ miền Trung vào, một mình vượt núi, xuyên rừng, lên đỉnh núi Tà Cú tìm nơi an tịnh để tu hành. Mãi 7 năm sau, những người đi rừng mới phát hiện ra hang đá nơi tu hành của nhà sư nên đã góp công dựng. Vừa tu hành vừa bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân được 16 năm thì nhà sư viên tịch. Từ đó nhà chùa lấy ngày 5 tháng 10 hàng năm làm ngày giỗ Tổ.

Lúc còn sống, nhà sư là thầy thuốc giỏi. Tương truyền vào năm Canh Thìn (1880), nhà sư đã cứu Hoàng thái hậu thoát khỏi căn bệnh hiểm nghèo bằng thuốc của mình. Vua Tự Đức đã ban sắc đặt tên chùa là "Linh Sơn Trường Thọ” và suy tôn nhà sư Trần Hữu Đức là "Đại lão Hòa thượng". Ngôi chùa dưới “Linh Sơn Long Đoàn" được xây dựng vào cuốn thế kỷ XIX theo ý nguyện của nhà sư trước lúc viên tịch.

Chùa Núi Tà Cú kết hợp, xen kẽ với núi rừng đã có tiếng là nơi thắng cảnh từ xưa. Từ dưới chân núi, leo lên hàng trăm tam cấp theo con đường ngoằn ngoèo giữa rừng già mới đến chùa. Ở đây không khí trong lành, hơi nước lạnh mát toát ra từ núi đá. Chùa Núi nổi tiếng nhờ ở phong cảnh hùng vĩ nên thơ của núi rừng; mặt khác, bàn tay con người qua nhiều thế hệ thay nhau bồi đấp nên những công trình kiến trúc nghệ thuật đồ sộ có một không hai. Đó là pho tượng khổng lồ "Thích Ca nhập niết bàn" nằm ở vị trí cao nhất cách chùa khoảng 100m. Dulichgo

Bằng tài nghệ, kỹ thuật điêu khắc và lòng sùng kính, các nghệ nhân đã tạo nên pho tượng hiếm có trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Tác phẩm do kỹ sư Trương Đình Ý chủ trì thực hiện vào năm 1962. Tượng Phật Thích Ca trong tư thế nằm nghiêng, đầu gối lên tay phải, 2 chân duỗi thẳng, mặt quay về hướng tây nam, lưng dựa vào vách núi. Pho tượng dài 49m, cao 6m và nặng hàng trăm tấn. Với hàng chục ngàn kg vật liệu đúc tượng, hàng ngàn lượt người đã phải vượt 4 - 5 km đường núi hiểm trở với thời gian dài vận chuyển đủ để tạo nên tác phẩm điêu khắc nghệ thuật này.

Cách pho tượng chừng 50m là nhóm tam thể phật trong tư thế đứng: tượng A di đà, tượng Quan Âm bồ tát, tượng Đại thế chí. Cả 3 pho tượng có chiều cao khoảng 7m nét mặt hiền hòa đang nhìn bao quát thế gian.

Hằng năm vào bất cứ thời điểm nào, nhất là dịp xuân sang, hàng vạn người từ khấp nơi kéo đến chùa Núi viếng Phật, thưởng ngoạn cảnh non nước thiên nhiên.

Chùa Núi cùng với những cánh rừng bảo tồn thiên nhiên lân cận đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng Danh lam thắng cảnh quốc gia theo Quyết định số 43-VH/QĐ ngày 7 tháng 1 năm 1993.

2. CỔ THẠCH TỰ

Tục gọi là Chùa Hang được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 16 (1835) do nhà sư Bửu Tạng sáng lập, tọa lạc trên vùng đồi núi đá lô nhô sát biển ở độ cao 64m thuộc xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong. Dưới chân đồi là biển Đông với nhiều ghềnh, đá núi, bãi cát, bãi đá màu tự nhiên kết hợp lại tạo thành nơi danh lam thắng cảnh nổi tiếng ở phía Bắc Bình Thuận.

Vùng đồi núi Cổ Thạch có nhiều tảng đá lớn, chồng lên nhau chứa đựng những vẻ đẹp nguyên sơ độc đáo, tạo nên nhiều hang động kỳ vĩ huyền bí. Chùa Cổ Thạch gồm một quần thể các công trình kiến trúc chính điện, nhà tổ, gác chuông, lầu trống, nhà thiền... phần lớn đều được bài trí trong các hang đá tự nhiên.

Việc chọn điểm lập am, dựng chùa của các vị thiền sư thật tuyệt diệu. Chính diện là một hang đá rất lớn do hai tảng đá chụm đầu vào nhau tạo thành hình mái nhà. Theo truyền thuyết, thời gian đầu đến đây, thiền sư Bửu Tạng đã tu luyện ở hang đá này.

Nhà thờ Tổ khai lập Bửu Tạng cũng như nhiều nhà sư có nhiều công đức cũng được dựng trong hang đá. Hang thờ phật Chuẩn Đề có pho tượng 18 tay và nhiều tượng cổ. Hang Tam Bảo thờ 23 pho tượng Phật cổ với kích thước và niên đại khác nhau.

Ngoài vẻ đẹp tự nhiên của hang động kết hợp với sự sáng tạo của con người, chùa Hang còn lưu giữ nhiều di sản văn hóa quí. Đó là tượng Phật nhiều hình, nhiều dạng tạo nên từ nhiều chất liệu và niên đại khác nhau; một số hiện vật quý từ thuở khai lập chùa như đại hồng chung đúc năm Đinh Mùi (1847), chiếc trống sấm năm Mậu Thân (1848)...

Cái hay cái đẹp ở Chùa Hang là cả một quần thể hang động với kiến trúc rộng lớn nhiều vẻ, nhiều cảnh liên tiếp nối nhau chen chúc giữa đá và cây rừng nhấp nhô. Sự hài hòa giữa nghệ thuật hoa viên, kiến trúc điêu khắc phù hợp với cảnh tôn trí thờ phụng bên trong càng tăng thêm không khí yên tĩnh, tôn nghiêm. Sự yên bình ở đây giúp du khách trút bỏ những mệt mỏi tầm thường, quên đi những suy nghĩ đời thường để tâm hồn vươn tới cõi thiện.

Cổ Thạch Tự ngoài cảnh đẹp còn là địa danh gắn liền với hai cuộc kháng chiến vừa qua của dân tộc. Nhà chùa đã đóng góp nhiều công của cho cách mạng đến ngày thắng lợi.

Hiện nay Cổ Thạch Tự là một điểm du lịch chính ở Bình Thuận. Hàng chục vạn người từ khắp nơi đến đây mỗi năm để chiêm bái, lễ phật, tắm biển và thưởng thức đặc sản biển.

Với những giá trị lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh, Cổ Thạch Tự đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng Danh lam thắng cảnh quốc gia ở QĐ số 120/QĐ-BT, ngày 1 1 tháng 9 năm 1993.

3. LINH QUANG TỰ

Là ngôi chùa cổ nhất ở đảo Phú Quý và cũng là một trong những ngôi chùa cổ ở Bình Thuận, tọa lạc trên ngọn đồi ở xã Tam Thanh. Theo gia phả của dòng họ nhà sư Nguyễn Cánh thì Linh Quang Tự được xây dựng vào năm 1747 đời vua Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng thứ 8. Đến nay chùa đã có niên đại trên 250 năm. Dulichgo

Qua nhiều lần tu bổ, tôn tạo, ngôi chùa được biến đổi dần về diện tích của các công trình kiến trúc và trang trí nghệ thuật. Đến cuối thế kỷ XVIII do sơ suất, chùa bị cháy và gần như toàn bộ di sản trong chùa bị thiêu hủy, chỉ còn lại hàng chục pho tượng cổ bằng đồng, đất nung. Sau đó chùa tiếp tục được xây lại trên nền cũ với tổng kiến trúc lạ, đẹp bao gồm: chính điện, nhà Tiền hiền, võ ca, có dạng hình chữ Đinh. Những phần chính thờ phụng ở chùa được sắp đặt theo qui cách "Tiền Phật hậu Tổ”.(1)

Lịch sử của quá trình xây dựng chùa Linh Quang bao gồm cả về mặt kiến trúc, tôn giáo và giá trị nghệ thuật của nền văn hóa biển trên đảo - gắn liền với quá trình định cư và phát triển của nhân dân trên đảo. Ở đây, vườn chùa đóng vai trò quan trọng đưa kiến trúc Phật giáo hòa nhập với thiên nhiên tạo cho ngôi chùa cổ nét gần gũi, thân quen mà không biệt lập. Từ trong những vòm cây dày bóng mát ấy nổi lên phần kiến trúc mái chùa với đầu đao, đuôi rắn vút cong thấp thoáng. Giữa biển khơi nhìn về đảo, ngôi chùa nổi lên như một tòa lâu đài cổ kính.

Linh Quang Tự còn lưu giữ nhiều văn tự cổ nói đến sự hình thành dân cư trên đảo, là nơi bảo tồn nhiều di sản văn hóa, sưu tập các pho tượng cổ quý. Có chăng pho tượng cổ, lớn gắn liền với những huyền thoại trên đảo trong các thế kỷ trước. Chiếc đại hồng chung ở chùa là quà tặng của chùa Trà Bang (Ninh Thuận), có niên đại ở cuối thế kỷ XVIII. Trong số những cổ tự lưu giữ ở chùa còn có 5 bức sắc của triều Nguyễn ban tặng. Hàng năm khi có những nghi lễ trọng đại, nhà chùa làm lễ thỉnh sắc mới đưa xuống.

Cảnh Linh Quang Tự đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng Thắng cảnh quốc gia theo Quyết định số 51/QĐ-BT ngày 12 tháng 1 năm 1996.

4. LINH SƠN TỰ

Thiết lập vào những năm đầu của thế kỷ XIX trong khu rừng già thuộc xã Vĩnh Hảo, huyện Tuy Phong ngày nay.

Sự tích ra đời của ngôi chùa được lưu truyền trong dân gian: đầu thế kỷ XIX một nhà sư từ miền Trung vào, không biết vì lý do gì đã ẩn vào một hang đá trong rừng. Dân làng đi rừng phát hiện được tiếng tụng kinh ở hang đá vọng ra. Biết mình bị lộ, nhà sư bỏ hang đá ra đi để lại một tấm bản đồ chỉ dẫn vị trí xây cất ngôi chùa sau này. Theo đó dân làng đã chuyển vật liệu lên xây chùa. Vị trí xây dựng chùa thật lý tưởng: cảnh núi rừng âm u, yên tĩnh tạo nên sự thanh tịnh của giới tu hành. Xung quanh các đỉnh núi tạo nên tả thanh long, hữu bạch hổ, nhiều hang đá tự nhiên hình hàm ếch, hàm rồng, giếng rún rồng không bao giờ cạn nước, hang Tổ... Những hang động có sẵn của tự nhiên mà y như có sự sắp đặt của bàn tay con người.

Thời chống Pháp, thực hiện tiêu thổ kháng chiến, dân làng đã dời tượng Phật vào giấu ở trong hang đá và phá dỡ chùa; mãi đến năm 1986 - 1987, mới có điều kiện xây dựng lại ngôi chùa trên nền xưa. Trước đó vài năm, nhà sư già Phạm Hành đào đất trồng chuối cạnh tảng đá "Voi phục" trước chùa, lỡi cuốc đụng phải một chiếc ấn đúc bằng đồng màu đen, nặng 650gram, ấn có hình chữ nhật, chiều dài 9,8cm, rộng 6,5cm bên trên có núm tròn để cầm.

Phía lưng ấn có 15 chữ Hán khắc chìm chia thành 2 dòng hai bên núm ấn. Dòng bên phải khắc 10 chữ với nội dung: "Trung nghĩa vệ, Trung thắng tứ hiệu quán quân sứ". Dòng bên trái khắc 5 chữ: "Tân Hợi niên đông tạo". Dưới mặt ấn có 10 chữ khắc theo lối chữ triện; hai dòng hai bên, mỗi bên 3 chữ và dòng ở giữa 4 chữ. 10 chữ trên mặt ấn trùng với 10 chữ trên lưng ấn. Về niên đại với 5 chữ: "Tân Hợi niên đông tạo" có thể biết chiếc ấn làm vào năm Quang Trung thứ tư (1791) (Ở Bảo tàng lịch sử Hà Nội hiện lưu giữ 2 quả ấn tương tự như chiến ấn Quang Trung tìm thấy ở Linh Sơn Tự. Chiếc thứ nhất đúc năm Quang Trung thứ tư với 9 chữ Hán "Suất cùng cư quan hệ ngũ hiệu đô ty”.).
Linh Sơn tự còn lưu giữ nhiều di vật cổ có giá trị như chuông đồng, tượng nhà sư Bửu Tạng, tượng Địa tạng v.v...

Mặc cho đường sá xa xôi, nhưng hàng ngày vẫn có nhiều đoàn khách từ các nơi đến chiêm ngưỡng cảnh núi rừng, ngắm cảnh chùa và tận hưởng không khí mát mẻ trong lành của Linh Sơn Tự.

5. CHÙA ÔNG

Là ngôi chùa cổ có qui mô lớn nhất của người Hoa ở Bình Thuận, tọa lạc tại phường Đức Nghĩa, thị xã Phan Thiết hiện nay. Theo Thần phả của chùa và niên đại khắc ghi bằng dòng chữ Hán trên thanh xà gồ nóc chính điện được biết: chùa lập vào tháng 11 năm Canh Dần 1770.

Tổng thể kiến trúc ở đây từ ngày khởi tạo là một ngôi miếu lớn của người Hoa xây dựng để thờ Quan Công (Quan Thánh đế quân). Sách "Đại Nam nhất thống chí" tập 12 gọi là "Đền Quan Công" đúng với tên lúc bấy giờ của miếu; và ngay trước cổng vào chùa hiện nay còn tấm biển ghi "Quan Thánh miếu”. Hơn nữa, nội dung thờ phụng bên trong chỉ có tượng Quan công cùng những tượng khác chứ không thờ Phật và không có các nhà s ưtrụ trì. Thế nhưng trong dân gian từ xưa đến nay cả người Việt và người Hoa đều quen gọi là Chùa Ông".

Nằm trên một diện tích khá lớn, chùa có lối kiến trúc và trang trí nghệ thuật đặc trưng của người Hoa, các dãy nhà nối tiếp nhau tạo nên hình chữ Kim. Hệ thống cột, vì kèo chạm khắc rất công phu, sắc nét phần nào giống kỹ thuật chạm khắc trong các ngôi đình của người Việt. Tất cả những cột trụ chính đều có treo câu đối chạm khắc và sơn son thiếp vàng lộng lẫy. Nổi lên ở các gian thờ là những bức tranh chạm gỗ, gắn ở tường mà nội dung miêu tả các điển tích xưa của người Hoa, có niên đại ở thế kỷ XVIII. Nhiều bức hoành lớn được chuyển từ Trung Hoa qua ở thế kỷ XIX. Tượng Quan Công to lớn bằng gỗ đặt trang trọng ở gian thờ chính điện cùng hàng chục những pho tượng cổ khác. Hệ thống bao lam bao phủ quanh các khám thờ ở chùa là những tác phẩm điêu khắc bằng gỗ có giá trị về nghệ thuật mà ở các chùa chiền khác không thể có được.

Chùa Ông hiện nay còn lưu giữ chiếc chuông cổ có giá trị về lịch sử và nghệ thuật, đúc tại Quảng Đông (Trung Quốc) và chuyển sang từ triều đại nhà Thanh. Kiểu cách đúc và vật liệu giống đại hồng chung của người Việt nhưng trang trí phức tạp và rườm rà hơn trên thân chuông. Chùa Ông là một nơi sân vườn đẹp.

Trước năm 1975, ở Phan Thiết thường diễn ra lễ hội "Nghinh Ông" ở chùa Ông. Năm 1996 lễ hội này được tổ chức lại, thu hút hàng chục ngàn người từ khắp nơi. Từ bao đời nay, chùa Ông là nơi mà vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc, nhân dân thường tụ tập đông đảo để cầu cho một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, làm ăn may mắn của mọi người, mọi nhà.

Chiếc thứ hai cùng loại với chiếc ấn và cùng có niên đại "'Tân Hợi niên đông tao”.

6. CHÙA PHẬT QUANG

Xây dựng vào nửa đầu thế kỷ XVIII, tọa lạc ở thôn Minh Long nay là phường Hưng Long, thị xã Phan Thiết. Vị trí của ngôi chùa vào thời điểm xây dựng, dân cư thưa thớt, bao quanh là những đồi cát mênh mông chạy dài ra biển nên trong dân gian cũng có tên là chùa Cát.

Khuôn viên của chùa Phật Quang tương đối lớn, bên trong bao gồm một tổng thể kiến trúc, cổng tam quan, chùa Tổ, chánh điện và hệ thống các công trình phụ nối liền giữa chùa Tổ và chánh điện. Mặt chính của chùa quay về hướng Nam. Do xây dựng từ lâu đời nên chùa đã hư hỏng, xuống cấp và được tu bổ nhiều lần. Lần tu bổ gần nhất là vào năm Bảo Đại thứ 9 (Giáp Tuất 1934), đợt này tu bổ lại hoàn toàn chùa Tổ và một số hư hỏng của các hạng mục khác.

Điểm đặc biệt quan trọng trong ngôi chùa cổ này là các thế hệ thiền sư chùa đã thay nhau gìn giữ, bảo quản rất tốt nhiều bộ phận thuộc di sản văn hóa có giá trị. Đó là chiếc đại hồng chung lớn bằng đồng chạm khắc đẹp, tinh tế và 4 mặt chuông khắc địa danh, lịch sử chùa cũng như niên đại; chuông được đúc vào năm Canh Ngọ 1750 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Một số hiện vật khác là những bản khắc gỗ tạo nên bộ kinh Pháp hoa với 118 bản. Đa phần trong 118 bản khắc cả hai mặt bằng chữ Hán sắc nét bao gồm 60 vạn lời, trong đó có 7 bản khắc họa hình ảnh Đức Phật thuyết pháp. Bộ kinh Pháp hoa hoàn thành vào năm 1734 mà bản khắc cuối cùng có ghi rõ đã hoàn thành vào ngày mùng một tháng tư, năm Long Đức thứ ba vào Giáp Dần. (Long Đức là niên hiệu của vua Lê Thuần Tông (1732 - 1735) đời nhà Hậu Lê).

Bộ kinh do hai khất sỹ Ninh Dung và khất sỹ Thiết Huệ hiệu là Khánh Tài chủ trương xin phép khắc. Cũng trong bản khắc cuối cùng của bộ kinh ghi công của 6 người đứng ra quyên góp và cúng tiền, người đứng ra in, nhiều người cúng gạo cơm và đặc biệt ghi công của hai vị thiền sư cùng 12 phật tử khắc trong thời gian 28 năm mới hoàn thành bộ kinh này.

Trong số những ngôi chùa cổ ở Bình Thuận, chùa Phật Quang, ngoài kiến trúc và nội dung chứa đựng nhiều di sản văn hóa nói chung và văn hóa Phật giáo, còn có hoa viên đẹp.

Theo Địa chí Bình Thuận, ảnh internet
Du lịch, GO!