(TTO) - Hà Nội có một con phố ẩm thực rất độc đáo, mà không tín đồ mê quà vặt nào không biết: đó là phố Hồ Hoàn Kiếm nối phố Đinh Tiên Hoàng và phố Cầu Gỗ nổi tiếng với món nộm bò khô.
1. Độc đáo bởi đây là con phố ngắn nhất Hà Nội với chiều dài chỉ vỏn vẹn khoảng 50m. Độc đáo bởi ai ham quà vặt cũng biết con phố này, nhưng ít ai để ý và nhớ tên chính xác của nó, vì đa phần mọi người đều nhớ và gọi nó là phố nộm bò khô - cái tên gắn liền với món quà vặt nổi tiếng nhất ở đây.
Phố nộm bò khô ngắn tới mức nhiều người không nghĩ nó lại là một con phố, ngắn tới mức nhà ở đầu phố và cuối phố có thể nói chuyện vọng lại với nhau, vậy mà đi từ đầu phố tới cuối phố có tới 5, 6 hàng nộm bò khô chào mời, vẫy gọi.
Vào giờ trưa, giờ tan tầm hay các ngày cuối tuần, khách tới ăn đông vui, tấp nập. Người đi đường qua con phố này lại nghe tiếng kéo cắt bò khô, cắt nguyên liệu lách tách không ngừng, vui tai và hấp dẫn.
2. Nộm bò khô ở phố Hồ Hoàn Kiếm về cơ bản cũng giống như nộm bò khô ở khắp các phố Hà Nội khác, đều gồm các nguyên liệu chính là đu đủ xanh, cà rốt, bò khô, lạc rang, rau thơm và nước nộm được chế biến và trộn đều với nhau trước khi ăn.
Đầu tiên, đu đủ xanh được gọt vỏ, rửa sạch rồi nạo thành sợi nhỏ, điểm xuyết vài sợi cà rốt đỏ cho đẹp mắt. Sợi đu đủ sẽ được ngâm qua với nước nước muối loãng cho bớt nhựa và đắng rồi để thật ráo nước cho đỡ bị mềm và nhũn. Rau thơm chủ yếu gồm kinh giới và húng láng, vào mùa thì thêm ít rau mùi, được rửa sạch, cắt nhỏ. Lạc rang vừa chín tới, giã nhỏ. Bò khô được cắt miếng vừa ăn. Dulichgo
Bấy nhiêu thứ nguyên liệu được chuẩn bị sẵn, đến khi khách gọi thì được cho vào đĩa, chan nước nộm vào. Lúc ăn, khách tự tay trộn đều nguyên liệu với nước nộm rồi thưởng thức. Cơ bản cũng ngần ấy thứ nguyên liệu và cũng cái cung cách phục vụ ấy, nhưng nộm bò khô ở bờ hồ Hoàn Kiếm lại khác biệt với nộm bò khô ở các nơi khác, lại hấp dẫn hơn và nổi tiếng đất Hà thành là bởi chủ quán ở đây, ngoài thịt bò khô, còn dùng cả lục phủ ngũ tạng của con bò để nêm vào đĩa nộm.
Gân, lách, sách, gan bò… được tẩm ướp húng lìu, gia vị rồi quay hoặc chiên vàng, thơm phức. Đến khi khách ăn thì cắt thêm vào đĩa. Hẳn nhiên những thứ ấy đã tạo nên phong vị mới mẻ cho đĩa nộm. Nhưng cái chính làm nên sự khác biệt giữa quán nộm này với quán nộm kia, nộm không ngon với nộm ngon chính là ở cái nước nộm, nước dùng để chan vào nộm.
Cũng là từ ngần ấy nguyên liệu: dấm, ớt, mắm, muối, đường… mà với những tỷ lệ pha chế riêng, sẽ cho ra những thứ nước nộm có hương vị riêng. Ăn thua với nhau chính là ở chỗ ấy. Khách có nhớ nhung hay không, có thèm thuồng hay không, có ứa nước miếng mỗi khi nghĩ đến hay không, phần nhiều ở cái nước nộm chua chua cay cay, ngọt ngọt mặn mặn một cách diệu kỳ ấy.
3. Con phố Hồ Hoàn Kiếm, cứ tầm giờ nghỉ trưa hay giờ tan tầm, người ngồi ăn lại đông đúc kề vai sát cánh. Khách dạo bờ Hồ vãn cảnh một vòng, đi qua nghe tiếng kéo lách tách vui tai, hấp dẫn không cưỡng lại được, kiểu gì cũng phải tạt vào ăn.
Một vài chiếc ghế nhựa được xếp ra cho khách ngồi, một chiếc khay sắt được đặt trên một chiếc ghế nhựa khác dùng làm “bàn” để nộm, rồi đĩa nộm được nhanh chóng mang ra sau một chặp liên hồi những tiếng lách tách của kéo cắt bò khô, gan, lách…
Thế là khách đã có thể bắt đầu thưởng thức. Nhìn đĩa nộm với đủ các sắc màu rực rỡ: nào xanh mát của rau thơm; nào nâu, nào đỏ, nào vàng của bò khô, của lục phủ ngũ tạng chiên; nào trắng, nào đỏ cam của sợi đu đủ, sợi cà rốt… mà khách đã như nở hoa trong bụng.
Nhẹ nhàng trộn đều đĩa nộm cho đu đủ, cà rốt, cho rau thơm, cho bò khô, cho lục phủ ngũ tạng, cho lạc rang thơm lừng ngấm đều với nước nộm. Vừa trộn khách vừa ứa nước miếng thòm thèm. Đến khi bắt đầu ăn thì vị giác như vỡ òa với đủ mọi hương vị thơm ngon khó cưỡng. Dulichgo
Này là cái dai, cái giòn của đu đủ; này là cái cay xực và đậm đà của bò khô; này là cái thơm thơm, ngầy ngậy của lạc rang, này là cái sừn sựt của gân, của lách bò chiên vàng thơm lựng; điểm xuyết trong đó là miếng gan quay rắn chắc, bùi bùi; là vị xanh tươi non của rau mùi, rau húng…
Giữa tất cả những hương, vị ấy, nổi lên vai trò không thể phủ nhận của “người nhạc trưởng” nước nộm.
Với cái vị chua cay, ngọn mặn đậm đà, sắc nét, nước nộm vừa là người liên kết tất cả các hương vị; vừa như nâng đỡ, để làm nổi bật và khắc họa sâu hơn từng hương vị, từng thành phần, để đĩa nộm trở thành một bản giao hưởng không thể uyển chuyển và hài hòa hơn, cứ cuốn lấy người ăn theo từng cung bậc chua, cay, ngọt, mặn của nó…
Vừa ăn vừa trò truyện, ngắm dòng người qua lại buôn bán, du lịch, vãn cảnh đi về trên con phố Hồ Hoàn Kiếm, thế mà đĩa nộm đã vơi đi tự lúc nào. Đến lúc đã ăn hết cái, thì nhiều khách hàng vốn là dân ghiền nộm bò khô, còn bê cả đĩa lên, húp hết nước nộm lúc này đã đậm đà hơn bao giờ hết, rồi mới chịu dừng đũa ra về.
4. Ngoài nộm bò khô, các quán nộm ở đây còn kiêm thêm một số món cho phong phú để chiều khẩu vị của khách hàng, như bánh bột lọc, nem rán… Nhưng nộm bò khô vẫn là số một, bởi vậy người ta mới nhớ tới con phố này là phố nộm bò khô.
Ăn rồi ghiền, rồi nhớ. Có những khi chạy xe vòng vòng quanh bờ Hồ, cứ thấy mình nhạt mồm nhạt miệng, thèm thuồng một thứ gì đó mà không định hình được là thèm thứ gì. Thầm lần tìm ở trong đầu: thèm kem thì không phải vì ngọt quá; bánh mì, xôi Yến cũng không vì hãy còn no…
Thẩn thờ suy nghĩ một hồi thì hóa ra là thèm nộm bò khô, một món ăn vặt nhẹ nhàng mà đầy đủ hương vị cho những thời khắc bâng quơ ấy, lại chạy ngay đến ăn cho thỏa cơn thèm. Chả thế mà, có người bạn tôi đi học, đi làm xa, nhớ về Hà Nội, chẳng cần màu mè, thơ văn lai láng, chỉ cần nhớ về những buổi chiều chạy xe lên bờ Hồ ăn nộm bò khô cũng đã đủ thấy cồn cào, quay quắt lắm rồi. Âu cũng là một nỗi nhớ vô hình mà cũng rất đỗi hữu hình của những người xa quê nhớ về Hà Nội...
Theo Iris Trương (Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Tản mạn món nộm Hà Nội
Showing posts with label Ẩm thực địa phương. Show all posts
Showing posts with label Ẩm thực địa phương. Show all posts
Thursday, January 29, 2015
Tuesday, January 27, 2015
Ăn cơm với người Thái ở bản Áng
(TTO) - Một buổi tối ướt át, lạnh lẽo trong một chuyến đi bất ngờ đến Mộc Châu, Sơn La. Và cũng bất ngờ không kém khi chúng tôi đã có một bữa tối hoành tráng và đáng nhớ bên bếp lửa nhà sàn người Thái ở bản Áng. Từ bức ảnh chụp đèo Thung Khe bạn đăng trên facebook mà chúng tôi đã có một hành trình bất ngờ thú vị ở Mộc Châu, địa danh vốn đã trở nên quen thuộc đến (tưởng chừng như) nhàm chán với nhiều người. Thực ra, đi đâu không hẳn là điều quá quan trọng, vấn đề ở chỗ là bạn đi với ai!
1. Đoàn đi với một lũ trẻ con lít nhít vào một ngày sương mù giăng dày đặc quốc lộ 6, mưa rả rích và những đám mây ầng ậc nước như muốn kéo sụp cả bầu trời. Đến được khách sạn cũng đã cuối chiều, hẹn nhau nghỉ ngơi một chút rồi vào thị trấn nông trường ăn tối.
Bất ngờ nhận được điện thoại của bạn, hỏi đang ở đâu, bảo đang ăn cơm tết của nhà người Thái, ăn từ trưa đến giờ chưa xong bữa, mấy ông bạn “ngất ngất” vì rượu hết rồi, có muốn vào bản chơi bạn chạy xe ra đón. Tôi nhát gừng, vì không chỉ có một mình, còn có một nhóm già trẻ lớn bé đi theo, nhờ bạn hỏi chủ nhà xem có đặt làm thêm bữa cơm tối cho cả đoàn được không. Sau vài phút trao đổi, bạn bảo chủ nhà đã đồng ý, dù hôm đó phải tiếp cả đoàn sinh viên.
Vừa mừng, vừa lo, mừng vì đã có chỗ ăn tối, lo vì không biết bữa tối thế nào, có phù hợp cho đám trẻ mẫu giáo đang tuổi ương nghạch kia không. Dulichgo
< Bên bếp lửa nhà sàn người Thái ở bản Áng.
Sập tối, mưa gió mịt mùng khiến màn đêm như bưng lấy mắt. Bạn đón ở ngã ba có đường đi cửa khẩu Loóng Sập vì (dù đi Mộc Châu không ít lần) nhưng tôi chưa bao giờ vào bản Áng, nơi có rừng thông, hồ nước và những cánh đồng hoa đã được khách du lịch chụp hết cả thẻ nhớ. Xe chạy thẳng đến cuối bản, mưa vẫn tí tách rơi.
2. Trong ngôi nhà của ông trưởng bản tiếng nói tiếng cười lao xao. Một đoàn sinh viên đi thăm quan Mộc Châu nghỉ đêm tại đây, “homestay”. Gian bếp ấm cúng bởi bếp lửa đượm củi đặt giữa sàn, ghế mây quây quần bên nồi xôi nếp.
< Quây quần chờ... cơm.
Rũ bỏ nước mưa, những cơn gió rét bên ngoài cầu thang gỗ, đám trẻ thích thú sà vào thổi lửa, tranh giành ghế ngồi. Người lớn nhẩn nha đợi bữa tối lát sẽ được dọn ra ngay bên bếp lửa. Ovuong, cậu bạn đã ở đây từ sáng, cùng làm cơm với gia đình người Thái, cùng ăn một bữa say sưa từ trưa đến chiều thay mặt chủ nhà đang bận túi bụi nấu nấu nướng nướng tiếp chúng tôi. Cậu bảo, bữa tối sẽ toàn các món ẩm thực đặc trưng của người Thái, gà nướng, cá nướng mắc khén, măng chua xào, chẩm chéo nhót xanh, xôi nếp nương ăn với quả cọ. Khác với bữa trưa có măng vầu luộc và thịt hấp lá dong. Dulichgo
< Cá nướng lá mắc khén trên bếp than.
Một buổi tối ướt át, lạnh lẽo mà tưởng tượng ra bữa cơm ngon lành bên bếp củi, thật là thèm rớt nước miếng. Ngồi quanh bếp củi xem bà chủ nhà đồ xôi bằng một dụng cụ đặc trưng của người Thái, một cái nồi có khuôn gỗ rất dài và rất cao đã lên màu bồ hóng của thời gian và khói bếp. Lát thấy ông chồng đầu đeo đèn pin mang vào mấy con gà nướng thơm nức mũi, tay dao tay thớt chặt xếp lên đĩa. Bọn trẻ con thích quá ra xin mấy miếng ăn trước, đứa nào đứa đấy hào hứng, phấn khởi vô cùng.
< Bữa cơm ngon lành đã được dọn ra.
3. Loáng cái, đã thấy chủ nhà chuẩn bị xong bữa tối, hai bạn tôi khệ nệ bưng vào một chiếc bàn gỗ dài đặt bên bếp củi, đầy ắp đồ ăn. Một bạn tôi thốt lên “Có cần linh đình như thế này không?”. Bà chủ nhà giới thiệu từng món ăn và hướng dẫn cách ăn cho đúng kiểu người Thái.
Trên mâm cơm ngoài gà nướng, cá nướng được ướp thứ gia vị độc đáo của vùng tây bắc là mắc khén còn có một món dân dã thoạt nhìn đã thấy sốt ruột muốn được thử: Chẩm chéo nhót xanh. Đây là một trong những cách ăn chua đặc trưng của người Thái. Các loại quả xanh non như nhót xanh, mận xanh được ăn kèm với thứ nước chấm có tên gọi hẩm chéo. Lá bắp cải vừa tầm trắng nõn quấn với nửa quả nhót xanh non, thêm tý rau mùi, lá tỏi, ít gừng, chấm đẫm vào bát nước chấm.
Bình thường tôi không thích ăn bắp cải sống, ấy vậy mà, vị ngọt, vị chua, vị chát, tiếng bắp cải vỡ giòn tan trong miệng, cái cay sực của gừng và ớt quyện vào mùi thơm của lá tỏi, lá mùi. Chao ôi, thật lạ lùng và ngon quá thể. Không thể không vui tay quấn ngay một miếng “ăn chua” thứ hai. Dulichgo
Chấm đẫm miếng “ăn chua” vào bát nước chẩm chéo, rồi từ từ tận hưởng, để đoán xem chẩm chéo được pha thế nào. Cảm nhận được vị thơm, vị cay, vị ngọt, vị bùi mà cuối cùng vẫn phải hỏi chủ nhà cách pha chế. Các gia vị gồm tỏi, ớt tươi, lá tỏi, lá mùi, mắc khén cho vào cối giã giập, trộn đều, cho vào bát pha chế thêm nước mắm, đường, nước lọc, nêm cho vừa ăn.
Chẩm chéo vốn là món gia vị truyền thống không thể thiếu trong bữa ăn của đồng bào Tây bắc nói chung và người Thái nói riêng, được dùng kết hợp với nhiều món ăn khác nhau như xôi, thịt, cá, rau cỏ, măng rừng.
Trong lúc tôi còn đang say sưa món “chẩm chéo nhót xanh” thì đám trẻ nhỏ được bày cho ăn xôi Thái với quả cọ. Cọ là một loại quả của vùng trung du, có vị bùi, ngậy, sau khi rửa sạch được đem xóc với những mảnh cật nứa già cho bong vỏ xanh cho vào nồi đun nhỏ lửa với nước. Người trung du gọi cách làm như vậy là “cọ ỏm”.
Bản thân quả cọ ỏm có thể ăn ngay bằng cách chấm mắm, bột canh hay muối vừng. Nhưng người Thái bày cho chúng tôi ăn cọ ỏm với xôi. Tách lớp thịt cọ ra, bỏ hột, dùng một nắm xôi bọc quanh thịt cọ, nắm đều tay cho lớp dầu cọ chảy ra ngấm vào xôi, ăn vừa béo, vừa thơm, vừa bùi, vừa ngậy.
Bọn trẻ con háo hức xắn xôi trong giỏ ra nắm với cọ, lại nhai su su bao tử luộc rau ráu. Một bữa tối hoành tráng và đáng nhớ bên bếp lửa nhà sàn của người Thái ở bản Áng, Mộc Châu, Sơn La.
Theo Thủy OCG (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
1. Đoàn đi với một lũ trẻ con lít nhít vào một ngày sương mù giăng dày đặc quốc lộ 6, mưa rả rích và những đám mây ầng ậc nước như muốn kéo sụp cả bầu trời. Đến được khách sạn cũng đã cuối chiều, hẹn nhau nghỉ ngơi một chút rồi vào thị trấn nông trường ăn tối.
Bất ngờ nhận được điện thoại của bạn, hỏi đang ở đâu, bảo đang ăn cơm tết của nhà người Thái, ăn từ trưa đến giờ chưa xong bữa, mấy ông bạn “ngất ngất” vì rượu hết rồi, có muốn vào bản chơi bạn chạy xe ra đón. Tôi nhát gừng, vì không chỉ có một mình, còn có một nhóm già trẻ lớn bé đi theo, nhờ bạn hỏi chủ nhà xem có đặt làm thêm bữa cơm tối cho cả đoàn được không. Sau vài phút trao đổi, bạn bảo chủ nhà đã đồng ý, dù hôm đó phải tiếp cả đoàn sinh viên.
Vừa mừng, vừa lo, mừng vì đã có chỗ ăn tối, lo vì không biết bữa tối thế nào, có phù hợp cho đám trẻ mẫu giáo đang tuổi ương nghạch kia không. Dulichgo
< Bên bếp lửa nhà sàn người Thái ở bản Áng.
Sập tối, mưa gió mịt mùng khiến màn đêm như bưng lấy mắt. Bạn đón ở ngã ba có đường đi cửa khẩu Loóng Sập vì (dù đi Mộc Châu không ít lần) nhưng tôi chưa bao giờ vào bản Áng, nơi có rừng thông, hồ nước và những cánh đồng hoa đã được khách du lịch chụp hết cả thẻ nhớ. Xe chạy thẳng đến cuối bản, mưa vẫn tí tách rơi.
2. Trong ngôi nhà của ông trưởng bản tiếng nói tiếng cười lao xao. Một đoàn sinh viên đi thăm quan Mộc Châu nghỉ đêm tại đây, “homestay”. Gian bếp ấm cúng bởi bếp lửa đượm củi đặt giữa sàn, ghế mây quây quần bên nồi xôi nếp.
< Quây quần chờ... cơm.
Rũ bỏ nước mưa, những cơn gió rét bên ngoài cầu thang gỗ, đám trẻ thích thú sà vào thổi lửa, tranh giành ghế ngồi. Người lớn nhẩn nha đợi bữa tối lát sẽ được dọn ra ngay bên bếp lửa. Ovuong, cậu bạn đã ở đây từ sáng, cùng làm cơm với gia đình người Thái, cùng ăn một bữa say sưa từ trưa đến chiều thay mặt chủ nhà đang bận túi bụi nấu nấu nướng nướng tiếp chúng tôi. Cậu bảo, bữa tối sẽ toàn các món ẩm thực đặc trưng của người Thái, gà nướng, cá nướng mắc khén, măng chua xào, chẩm chéo nhót xanh, xôi nếp nương ăn với quả cọ. Khác với bữa trưa có măng vầu luộc và thịt hấp lá dong. Dulichgo
< Cá nướng lá mắc khén trên bếp than.
Một buổi tối ướt át, lạnh lẽo mà tưởng tượng ra bữa cơm ngon lành bên bếp củi, thật là thèm rớt nước miếng. Ngồi quanh bếp củi xem bà chủ nhà đồ xôi bằng một dụng cụ đặc trưng của người Thái, một cái nồi có khuôn gỗ rất dài và rất cao đã lên màu bồ hóng của thời gian và khói bếp. Lát thấy ông chồng đầu đeo đèn pin mang vào mấy con gà nướng thơm nức mũi, tay dao tay thớt chặt xếp lên đĩa. Bọn trẻ con thích quá ra xin mấy miếng ăn trước, đứa nào đứa đấy hào hứng, phấn khởi vô cùng.
< Bữa cơm ngon lành đã được dọn ra.
3. Loáng cái, đã thấy chủ nhà chuẩn bị xong bữa tối, hai bạn tôi khệ nệ bưng vào một chiếc bàn gỗ dài đặt bên bếp củi, đầy ắp đồ ăn. Một bạn tôi thốt lên “Có cần linh đình như thế này không?”. Bà chủ nhà giới thiệu từng món ăn và hướng dẫn cách ăn cho đúng kiểu người Thái.
Trên mâm cơm ngoài gà nướng, cá nướng được ướp thứ gia vị độc đáo của vùng tây bắc là mắc khén còn có một món dân dã thoạt nhìn đã thấy sốt ruột muốn được thử: Chẩm chéo nhót xanh. Đây là một trong những cách ăn chua đặc trưng của người Thái. Các loại quả xanh non như nhót xanh, mận xanh được ăn kèm với thứ nước chấm có tên gọi hẩm chéo. Lá bắp cải vừa tầm trắng nõn quấn với nửa quả nhót xanh non, thêm tý rau mùi, lá tỏi, ít gừng, chấm đẫm vào bát nước chấm.
Bình thường tôi không thích ăn bắp cải sống, ấy vậy mà, vị ngọt, vị chua, vị chát, tiếng bắp cải vỡ giòn tan trong miệng, cái cay sực của gừng và ớt quyện vào mùi thơm của lá tỏi, lá mùi. Chao ôi, thật lạ lùng và ngon quá thể. Không thể không vui tay quấn ngay một miếng “ăn chua” thứ hai. Dulichgo
Chấm đẫm miếng “ăn chua” vào bát nước chẩm chéo, rồi từ từ tận hưởng, để đoán xem chẩm chéo được pha thế nào. Cảm nhận được vị thơm, vị cay, vị ngọt, vị bùi mà cuối cùng vẫn phải hỏi chủ nhà cách pha chế. Các gia vị gồm tỏi, ớt tươi, lá tỏi, lá mùi, mắc khén cho vào cối giã giập, trộn đều, cho vào bát pha chế thêm nước mắm, đường, nước lọc, nêm cho vừa ăn.
Chẩm chéo vốn là món gia vị truyền thống không thể thiếu trong bữa ăn của đồng bào Tây bắc nói chung và người Thái nói riêng, được dùng kết hợp với nhiều món ăn khác nhau như xôi, thịt, cá, rau cỏ, măng rừng.
Trong lúc tôi còn đang say sưa món “chẩm chéo nhót xanh” thì đám trẻ nhỏ được bày cho ăn xôi Thái với quả cọ. Cọ là một loại quả của vùng trung du, có vị bùi, ngậy, sau khi rửa sạch được đem xóc với những mảnh cật nứa già cho bong vỏ xanh cho vào nồi đun nhỏ lửa với nước. Người trung du gọi cách làm như vậy là “cọ ỏm”.
Bản thân quả cọ ỏm có thể ăn ngay bằng cách chấm mắm, bột canh hay muối vừng. Nhưng người Thái bày cho chúng tôi ăn cọ ỏm với xôi. Tách lớp thịt cọ ra, bỏ hột, dùng một nắm xôi bọc quanh thịt cọ, nắm đều tay cho lớp dầu cọ chảy ra ngấm vào xôi, ăn vừa béo, vừa thơm, vừa bùi, vừa ngậy.Bọn trẻ con háo hức xắn xôi trong giỏ ra nắm với cọ, lại nhai su su bao tử luộc rau ráu. Một bữa tối hoành tráng và đáng nhớ bên bếp lửa nhà sàn của người Thái ở bản Áng, Mộc Châu, Sơn La.
Theo Thủy OCG (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Tuesday, January 20, 2015
Phảng phất hương vị miếng khô trâu
Ngày nay, dù tên gọi theo địa giới hành chính, hay cách gọi trong dân gian, nhưng đều có không ít địa danh ở miền Tây Nam Bộ có thành tố Trâu. Ví dụ như: Ngan Trâu, Đường Trâu, Xẻo Trâu, Vàm Trâu, Bàu Trâu Nằm,… Phải chăng con trâu, món ăn từ thịt trâu đã gắn bó với vùng đất miền Tây ngay từ khi khẩn hoang lập địa của ông cha nên mới có nhiều thành tố trâu như vậy.
Trong một lần điền dã thực tế vào vùng Đường Trâu của huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng, chúng tôi được một lão nông người Khmer kể rằng, xưa ở vùng này trâu nhiều vô kể. Theo dấu chân chúng đi, nước mưa xói mòn dần thành đường. Xa xa là nhà của bà con người Khmer, người Việt trong các phum, sóc.
Để bẫy, bắt trâu rừng về thịt làm thức ăn, người ta nghĩ ra cách chẻ bụp lá dừa nước làm dây. Phơi dây khô rồi thắt thành dây niệc lớn cỡ cườm tay người. Niệc dài mấy sải tay. Dùng dây niệc ấy thắt thành thòng lọng, gặp bầy trâu rừng thì cả trai tráng trong sóc tụ lại, người cây, người gậy, người lớn tuổi và có kinh nghiệm cầm niệc dây chuẩn bị bắt trâu.
Trước hết, người ta tách con yếu nhất ra khỏi đàn. Ví cho nó xuống lung bàu, dùng niệc lựa thế quăn tròng vào cổ chúng. Bắt được trâu thì xẻ thịt chia nhau. Thịt trâu nhiều ăn không hết thì phơi khô. Khô trâu vừa là thực phẩm để ăn dần qua mùa mưa, vừa là món ăn độc đáo của người miền hoang dã xưa kia.
Thịt đùi trâu rừng dùng dao bén tách bỏ gân, xắt thành lát. Gừng đâm nhuyễn, cho thêm mấy ly rượu đế vào để bóp thịt cho bớt mùi tanh. Sau đó, người ta xắt, băm sả cho nhuyễn, muối cục cũng đâm nát, với chục trái ớt hiểm. Bỏ thịt vào ướp đều, chờ thịt ngấm gia vị thì đem ra phơi nắng. Gặp nắng tốt và thường xuyên trở bề thì khô sẽ thơm ngon. Dulichgo
Khi ăn, người ta đem miếng khô trâu bỏ vào nước (không dùng nước mưa, thịt trâu kị nước mưa) ngâm một chút, vớt khô ra để lên bếp than nướng. Chừng nào miếng khô thơm, rộp lên thì đem xuống cạo tro, dùng cây, chày đập cho mềm. Xé khô ăn với cơm hoặc trộn gỏi bông bần…
Bần là loài cây mọc ven sông, nhụy bông bần màu trăng, tím, vị chát, chua. Hái bông bần về lấy nhụy, bóp sơ qua với dấm rồi trộn khô trâu vào, tạo nên hương vị đậm đà, khó quên. Người bình dân thưởng thức món này ít khi thiếu vài ly rượu đế đi kèm.
Thịt khô trâu rừng dai nhưng ngọt đậm đà, quyện với vị chua, chát của gỏi bần, vị cay của rượu quả là ngon miệng và ấm lòng người bình dân miền sông nước quê mùa. Dân gian tin rằng ăn khô trâu còn trị được bệnh tê thấp.
Ngày nay, những vùng đầm lầy nhiều lau sậy, lá dừa nước đã được cải tạo. Làng xóm đông đúc cư dân. Trâu rừng đã hoàn toàn vắng bóng. Trâu nhà được thuần dưỡng ít ai làm thịt. Nếu họa hoằn có thịt trâu thì cũng không còn … dư đến mức để phơi khô! Ở một số nơi vẫn có làm khô trâu để bán cho khách vãng lai. Xong, do cách làm mang tính thương mại, nên dẫu sao miếng khô trâu mùi vị không thể ngon bằng như trước đây.
Theo Út Tẻo (Dân Việt)
Du lịch, GO!
Nhớ miếng khô trâu
Khô trâu miền đá
Trong một lần điền dã thực tế vào vùng Đường Trâu của huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng, chúng tôi được một lão nông người Khmer kể rằng, xưa ở vùng này trâu nhiều vô kể. Theo dấu chân chúng đi, nước mưa xói mòn dần thành đường. Xa xa là nhà của bà con người Khmer, người Việt trong các phum, sóc.
Để bẫy, bắt trâu rừng về thịt làm thức ăn, người ta nghĩ ra cách chẻ bụp lá dừa nước làm dây. Phơi dây khô rồi thắt thành dây niệc lớn cỡ cườm tay người. Niệc dài mấy sải tay. Dùng dây niệc ấy thắt thành thòng lọng, gặp bầy trâu rừng thì cả trai tráng trong sóc tụ lại, người cây, người gậy, người lớn tuổi và có kinh nghiệm cầm niệc dây chuẩn bị bắt trâu.Trước hết, người ta tách con yếu nhất ra khỏi đàn. Ví cho nó xuống lung bàu, dùng niệc lựa thế quăn tròng vào cổ chúng. Bắt được trâu thì xẻ thịt chia nhau. Thịt trâu nhiều ăn không hết thì phơi khô. Khô trâu vừa là thực phẩm để ăn dần qua mùa mưa, vừa là món ăn độc đáo của người miền hoang dã xưa kia.
Thịt đùi trâu rừng dùng dao bén tách bỏ gân, xắt thành lát. Gừng đâm nhuyễn, cho thêm mấy ly rượu đế vào để bóp thịt cho bớt mùi tanh. Sau đó, người ta xắt, băm sả cho nhuyễn, muối cục cũng đâm nát, với chục trái ớt hiểm. Bỏ thịt vào ướp đều, chờ thịt ngấm gia vị thì đem ra phơi nắng. Gặp nắng tốt và thường xuyên trở bề thì khô sẽ thơm ngon. DulichgoKhi ăn, người ta đem miếng khô trâu bỏ vào nước (không dùng nước mưa, thịt trâu kị nước mưa) ngâm một chút, vớt khô ra để lên bếp than nướng. Chừng nào miếng khô thơm, rộp lên thì đem xuống cạo tro, dùng cây, chày đập cho mềm. Xé khô ăn với cơm hoặc trộn gỏi bông bần…
Bần là loài cây mọc ven sông, nhụy bông bần màu trăng, tím, vị chát, chua. Hái bông bần về lấy nhụy, bóp sơ qua với dấm rồi trộn khô trâu vào, tạo nên hương vị đậm đà, khó quên. Người bình dân thưởng thức món này ít khi thiếu vài ly rượu đế đi kèm.
Thịt khô trâu rừng dai nhưng ngọt đậm đà, quyện với vị chua, chát của gỏi bần, vị cay của rượu quả là ngon miệng và ấm lòng người bình dân miền sông nước quê mùa. Dân gian tin rằng ăn khô trâu còn trị được bệnh tê thấp.Ngày nay, những vùng đầm lầy nhiều lau sậy, lá dừa nước đã được cải tạo. Làng xóm đông đúc cư dân. Trâu rừng đã hoàn toàn vắng bóng. Trâu nhà được thuần dưỡng ít ai làm thịt. Nếu họa hoằn có thịt trâu thì cũng không còn … dư đến mức để phơi khô! Ở một số nơi vẫn có làm khô trâu để bán cho khách vãng lai. Xong, do cách làm mang tính thương mại, nên dẫu sao miếng khô trâu mùi vị không thể ngon bằng như trước đây.
Theo Út Tẻo (Dân Việt)
Du lịch, GO!
Nhớ miếng khô trâu
Khô trâu miền đá
Monday, January 19, 2015
Bắt tôm trên đầm Trà Ổ
Đầm Trà Ổ là đầm nước ngọt lớn của huyện Phù Mỹ và tỉnh Bình Định, còn có tên gọi là Đầm Châu Trúc vì phía bắc của Đầm có hai thôn Châu Giang và Trúc Võng. Trước đây đầm nối với biển bằng cửa Hà Ra nhưng hiện nay cửa này chỉ thông biển vào mùa mưa còn mùa khô thì bị bồi lấp.
Mặt nước mênh mông của đầm giáp với các xã: Mỹ Thắng, Mỹ Châu, Mỹ Lợi và Mỹ Đức. Đầm Trà Ổ không chỉ đẹp mà nơi đây còn là môi trường sinh sống của nhiều loài thủy sản mang lại nguồn sống đáng kể cho người dân ven đầm và khi nói đến các loài thủy sản quý, có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao trong Đầm Trà Ổ không thể không nhắc đến con tôm đất bé nhỏ, căng tròn, tươi xanh...
< Để bắt con tôm dưới đầm nước mênh mông, bên cạnh chiếc xuồng làm bằng tôn, hoặc sõng nan người bắt tôm phải có 'dẹp' tôm (rọ).
Con tôm trong đầm Trà Ổ làm ngọt ngào tô bún tôm, dẫu ai đó dù chỉ một lần thưởng thức cũng khó quên hương vị đặc trưng món bún tôm Châu Trúc nói riêng và Phù Mỹ nói chung. Tuy nhiên, nếu có dịp về Phù Mỹ, du khách có thể xem cách bắt tôm của người dân nơi đây cũng không kém phần thú vị như tô bún tôm Châu Trúc nổi tiếng… Dulichgo
< 'Dẹp' được bà con tự đan để dùng, vật liệu chủ yếu nan tre, đan dày, có hình tròn chiều dài thường 4 tấc (40 cm), đường kính 1,5 tấc, toi nhỏ ở 1 đầu. Hầu hết bà con thôn Châu Trúc (xã Mỹ Châu) đan dẹp để thả, còn thừa đem bán, bình quân 4.000đồng/dẹp.
Theo bà con quanh đầm, kể cả mùa nước cạn đến mùa nước lũ, thả dẹp đều có tôm, nhưng từ tháng 3 đến tháng 8 ÂL hàng năm, mùa nước cạn sản lượng tôm đạt cao, bình quân thả mỗi đêm thả 1.000 - 1.500 dẹp, bắt được 3 - 5kg tôm; còn mùa nước nổi thì ít hơn…
< Tuy nhiên để tôm vào dẹp phải dùng mồi. Mồi bỏ vào rọ để nhử tôm được chế biến bằng cám heo và cua (bắt ngay trên đầm) giã nhuyễn, bóp thành viên dài (gần bằng ngón tay cái), đem nướng cho sém khô, tỏa hương thơm.
Hiện nay, lượng tôm có giảm, nên giá tăng cao, bình quân 100.000đồng/kg, người bắt tôm có thể kiếm cả trăm ngàn đồng mỗi ngày. Dulichgo
< Nhiều hộ dân quanh đầm chuyên nghề bắt tôm thả cả ngàn rọ tôm. Một hàng dây dừa giăng thả cả trăm chiếc rọ tôm có phao nổi để biết. Hai đầu dây được cột vào hai trụ cây hay hai hòn đá nặng thả xuống nước. Bỏ mồi xong, rọ được cột trên dây dừa, thả treo lưng chừng mực nước.
Những mùa tôm Đầm Trà Ổ đã góp phần cho bà con có nhà xây, xe máy, điện thắp sáng, tiền cho con ăn học và cả thú vui tao nhã cùng ông mặt trời mỗi sớm tinh sương thức dậy hối hả ra đầm giở dẹp, bắt tôm...
Và cũng nhờ nghề này mà ở Phù Mỹ có món bún tôm Trà Ổ (Châu Trúc) nổi tiếng.
< Mỗi đêm chỉ thả rọ tôm 1 lần, đến sáng tinh sương những đàn ghe hối hả ra đầm kéo dẹp, trút tôm. Trút xong, lại bỏ mồi, lại thả, sáng hôm sau ra trút tiếp. Và cứ vậy, có nước, có thả dẹp, nhất định ít nhiều sẽ có tôm.
Nét đặc trưng của bún tôm Trà Ổ, trước hết là ở cách làm bún. Bún không phải làm sẵn bán ở chợ, hay được mua ở các lò bún nổi tiếng. Người bán bún tôm chế biến sợi bún ngay tại chỗ. Khi có khách vào, chủ quán mới bắt đầu ép bột gạo đã xay sẵn, xong hấp trong nồi nước đang sôi. Sợi bún rất nhỏ, mềm và trắng muốt. Tôm dùng làm bún là những con tôm sinh sản tự nhiên, còn sống, được đánh bắt từ đầm Trà Ổ. Dulichgo
< Hơn 300 hộ quanh đầm sống nhờ vào con tôm tươi hấn, bụ bẩm, săn chắc và ngọt thịt, với sản lượng không ít, khi vừa mới lên bờ đã có đại lý thu mua.
Tô bún tôm Trà Ổ có hương vị rất đặc biệt. Đầu tiên, người ta giã nhuyễn tôm sống đã lột vỏ, nhúng qua vào nồi nước đang sôi rồi cho bún vào tô, chế nước xáo bún vào, rắc một ít tiêu bột, một ít bột ngọt, một ít hành hương. Thế là đã có ngay một tô bún tôm nóng hổi, tỏa hương thơm rất hấp dẫn.
Thường thì bún tôm được ăn kèm với bánh tráng gạo nướng. Nhiều người mới ăn lần đầu chưa thấy thích, nhưng ăn nhiều lần thì nghiện lúc nào không hay. Nghiện vì chất ngọt của nước xáo bún, của mùi hành hương thơm ngát và nghiện luôn cả cái giá rất bình dân.
Đầm Trà Ổ cũng là nơi tổ chức hội đua thuyền truyền thống hàng năm vào dịp xuân về. Đây là giải đấu thường niên và cũng là giải đua lớn nhất Bình Định. Thông thường thì với giải nam, các đội phải trải qua 5 vòng 10 dạo (tổng cộng khoảng 10 km). Về đội nữ với sức lực yếu hơn nên chỉ phải thi đấu 4 vòng 8 dạo (tổng cộng 8 km). Sau hiệu lệnh xuất phát của ban tổ chức, những tiếng hò reo cổ vũ của khán giả vang lên, đầm Trà Ổ bắt đầu dậy sóng.
Du lịch, GO! tổng hợp từ báo Bình Định và nhiều nguồn khác.
Mặt nước mênh mông của đầm giáp với các xã: Mỹ Thắng, Mỹ Châu, Mỹ Lợi và Mỹ Đức. Đầm Trà Ổ không chỉ đẹp mà nơi đây còn là môi trường sinh sống của nhiều loài thủy sản mang lại nguồn sống đáng kể cho người dân ven đầm và khi nói đến các loài thủy sản quý, có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao trong Đầm Trà Ổ không thể không nhắc đến con tôm đất bé nhỏ, căng tròn, tươi xanh...
< Để bắt con tôm dưới đầm nước mênh mông, bên cạnh chiếc xuồng làm bằng tôn, hoặc sõng nan người bắt tôm phải có 'dẹp' tôm (rọ).
Con tôm trong đầm Trà Ổ làm ngọt ngào tô bún tôm, dẫu ai đó dù chỉ một lần thưởng thức cũng khó quên hương vị đặc trưng món bún tôm Châu Trúc nói riêng và Phù Mỹ nói chung. Tuy nhiên, nếu có dịp về Phù Mỹ, du khách có thể xem cách bắt tôm của người dân nơi đây cũng không kém phần thú vị như tô bún tôm Châu Trúc nổi tiếng… Dulichgo
< 'Dẹp' được bà con tự đan để dùng, vật liệu chủ yếu nan tre, đan dày, có hình tròn chiều dài thường 4 tấc (40 cm), đường kính 1,5 tấc, toi nhỏ ở 1 đầu. Hầu hết bà con thôn Châu Trúc (xã Mỹ Châu) đan dẹp để thả, còn thừa đem bán, bình quân 4.000đồng/dẹp.
Theo bà con quanh đầm, kể cả mùa nước cạn đến mùa nước lũ, thả dẹp đều có tôm, nhưng từ tháng 3 đến tháng 8 ÂL hàng năm, mùa nước cạn sản lượng tôm đạt cao, bình quân thả mỗi đêm thả 1.000 - 1.500 dẹp, bắt được 3 - 5kg tôm; còn mùa nước nổi thì ít hơn…
< Tuy nhiên để tôm vào dẹp phải dùng mồi. Mồi bỏ vào rọ để nhử tôm được chế biến bằng cám heo và cua (bắt ngay trên đầm) giã nhuyễn, bóp thành viên dài (gần bằng ngón tay cái), đem nướng cho sém khô, tỏa hương thơm.
Hiện nay, lượng tôm có giảm, nên giá tăng cao, bình quân 100.000đồng/kg, người bắt tôm có thể kiếm cả trăm ngàn đồng mỗi ngày. Dulichgo
< Nhiều hộ dân quanh đầm chuyên nghề bắt tôm thả cả ngàn rọ tôm. Một hàng dây dừa giăng thả cả trăm chiếc rọ tôm có phao nổi để biết. Hai đầu dây được cột vào hai trụ cây hay hai hòn đá nặng thả xuống nước. Bỏ mồi xong, rọ được cột trên dây dừa, thả treo lưng chừng mực nước.
Những mùa tôm Đầm Trà Ổ đã góp phần cho bà con có nhà xây, xe máy, điện thắp sáng, tiền cho con ăn học và cả thú vui tao nhã cùng ông mặt trời mỗi sớm tinh sương thức dậy hối hả ra đầm giở dẹp, bắt tôm...
Và cũng nhờ nghề này mà ở Phù Mỹ có món bún tôm Trà Ổ (Châu Trúc) nổi tiếng.
< Mỗi đêm chỉ thả rọ tôm 1 lần, đến sáng tinh sương những đàn ghe hối hả ra đầm kéo dẹp, trút tôm. Trút xong, lại bỏ mồi, lại thả, sáng hôm sau ra trút tiếp. Và cứ vậy, có nước, có thả dẹp, nhất định ít nhiều sẽ có tôm.
Nét đặc trưng của bún tôm Trà Ổ, trước hết là ở cách làm bún. Bún không phải làm sẵn bán ở chợ, hay được mua ở các lò bún nổi tiếng. Người bán bún tôm chế biến sợi bún ngay tại chỗ. Khi có khách vào, chủ quán mới bắt đầu ép bột gạo đã xay sẵn, xong hấp trong nồi nước đang sôi. Sợi bún rất nhỏ, mềm và trắng muốt. Tôm dùng làm bún là những con tôm sinh sản tự nhiên, còn sống, được đánh bắt từ đầm Trà Ổ. Dulichgo
< Hơn 300 hộ quanh đầm sống nhờ vào con tôm tươi hấn, bụ bẩm, săn chắc và ngọt thịt, với sản lượng không ít, khi vừa mới lên bờ đã có đại lý thu mua.
Tô bún tôm Trà Ổ có hương vị rất đặc biệt. Đầu tiên, người ta giã nhuyễn tôm sống đã lột vỏ, nhúng qua vào nồi nước đang sôi rồi cho bún vào tô, chế nước xáo bún vào, rắc một ít tiêu bột, một ít bột ngọt, một ít hành hương. Thế là đã có ngay một tô bún tôm nóng hổi, tỏa hương thơm rất hấp dẫn.
Thường thì bún tôm được ăn kèm với bánh tráng gạo nướng. Nhiều người mới ăn lần đầu chưa thấy thích, nhưng ăn nhiều lần thì nghiện lúc nào không hay. Nghiện vì chất ngọt của nước xáo bún, của mùi hành hương thơm ngát và nghiện luôn cả cái giá rất bình dân.
Đầm Trà Ổ cũng là nơi tổ chức hội đua thuyền truyền thống hàng năm vào dịp xuân về. Đây là giải đấu thường niên và cũng là giải đua lớn nhất Bình Định. Thông thường thì với giải nam, các đội phải trải qua 5 vòng 10 dạo (tổng cộng khoảng 10 km). Về đội nữ với sức lực yếu hơn nên chỉ phải thi đấu 4 vòng 8 dạo (tổng cộng 8 km). Sau hiệu lệnh xuất phát của ban tổ chức, những tiếng hò reo cổ vũ của khán giả vang lên, đầm Trà Ổ bắt đầu dậy sóng.
Du lịch, GO! tổng hợp từ báo Bình Định và nhiều nguồn khác.
Sunday, January 18, 2015
Cà phê Sài Gòn qua góc nhìn của cô gái Hà Nội
Hà Nội bữa nay nắng ấm quá. Những giọt nắng ngọt ngào sau cơn mưa đậu trên phin cà phê mới pha đang chầm chậm nhỏ từng giọt, từng giọt.
Sáng nay, tôi chiều chuộng bản thân bằng cách pha một ly cà phê đúng ngĩa, chẳng lười biếng xé gói cà phê pha sẵn đổ vào cốc như mọi hôm. Mùa đông, nên cà phê nóng. Không đâu mà tôi lại nhớ đến ly cà phê sữa đá trong trẻo mát lạnh của Sài Gòn. Hay bất cứ lúc nào nhớ đến cà phê, tôi cũng nhớ cà phê Sài Gòn, không rõ nữa…
Đi Sài Gòn dăm ba bận, hỏi tôi nhớ gì nhất, lần nào cũng chỉ là cà phê. Chẳng dám nhận mình là người sành sỏi, tôi uống cà phê bằng cảm xúc nhiều hơn là hương vị. Mỗi khi đặt chân tới một vùng đất nào đó, tôi có thói quen nếm thử cà phê của họ, cảm nhận đặc trưng của nền văn hóa ấy qua vị đắng ngọt của những giọt hổ phách nguyên lành trong trẻo, ngắm những người ở xung quanh mình, nghe cách họ gọi, cách họ uống để chiêm nghiệm và mỉm cười... Ai đó đã nói với tôi về cà phê Sài Gòn từ khi mảnh đất này với tôi vẫn còn xa lạ, rằng Sài Gòn cà phê sữa đá, Hà Nội trà đá vỉa hè. Ấn tượng ấy rõ nét đến nỗi lần đầu tiên bước chân vào nơi đây, việc đầu tiên tôi làm là…đi uống cà phê, dẫu phải dầm ướt sũng trong cơn mưa hạ cuối mùa.
Lần đầu tiên gọi cà phê ở Sài Gòn, tôi buột miệng gọi “nâu đá” như thói quen ở Hà Nội. Thấy cậu bé phục vụ thoáng bối rối, mới nhớ ra ở Sài Thành không có nâu đá mà chỉ có cà phê sữa đá. Sau này, đi cà phê Sài gòn với bạn, dù luôn được bạn ân cần hỏi: “Em uống gì?”, nhưng vẫn cứ thích tự mình gọi bởi cái cách người Sài Gòn kêu " Cà phê sữa đá" thật quá ư dễ thương. Về Hà Nội lại phải gọi “nâu”, “đen” để tránh làm bạn nhân viên miền Bắc “bối rối” lần nữa mà đôi khi thèm một giọng Sài Gòn thiệt ngọt: “Dạ một cà phê sữa đá có liền”. Dulichgo
Cà phê Sài Gòn uống nhạt nhưng thơm tinh khiết và êm ái, màu nâu ánh khi pha thêm sữa thì chuyển thành hổ phách trong trẻo, trông “đáng yêu” hơn ly cà phê có màu đen kịt mà không hiểu sao có người vẫn chuộng. Có lẽ bởi cái xứ này nóng nên đá viên trong ly bao giờ cũng rất nhiều, báo hại tôi sau này đi uống cà phê Hà Nội cũng đòi thật nhiều đá, để rồi lại rầu lòng vì mấy bạn nhân viên mang ra hổng phải đá viên nhỏ xíu trong trong như ở Sài Gòn. Cà phê đựng trong cái ly thủy tinh cao cao, đá viên nhỏ xíu lúc lắc, bưng lên là ngó được cả trời xanh mây trắng bên trong. Uống được phân nửa, tôi thích cầm ly lắc qua lắc lại cho đá kêu lanh canh. Cái thú ấy, cứ phải vào Sài Gòn uống cà phê mới thích chơi.
Với một kẻ ghiền cà phê, Sài Gòn chiều chuộng tôi quá đỗi khi mà thứ đồ uống ấy phủ khắp mọi nơi, cần là có liền. Quán sang đắt đỏ, cà phê vỉa hè, cà phê đựng trong ly nhựa thong dong dạo công viên… kiểu gì cũng có nét riêng rất đỗi Sài Gòn. Tôi nhớ lần vào Sài Gòn gần nhất, vì bạn kể thường ngồi uống cà phê từ tờ mờ sáng ở hông chợ Bến Thành, vậy là tôi cũng lui cui dậy từ 5 giờ sáng, chạy ra đó cà phê cùng với bạn. Hai ly cà phê sữa đá, một chiếc ấm nhôm đựng nước, chúng tôi ngồi nhìn Sài Gòn tỉnh dậy, hoặc Sài Gòn chưa bao giờ ngủ đang ngắm nhìn tôi.
Hoặc một lần vào Sài Gòn xa xa hơn nữa, đi cà phê ở một quán… hơi sang, gặp một cậu nhân viên dễ thương có giọng nói ngọt ơi là ngọt, chốc chốc lại: “Xin phép để em rót thêm nước cho chị”. Mình ghé tai anh bạn thì thầm: “Phục vụ ở Sài Gòn dễ thương quá”, vậy mà cậu nghe thấy, quay lại nở nụ cười còn ấm hơn cả cái nắng Sài Thành đang rực rỡ ngoài kia. Dulichgo
Vì lỡ thích cà phê Sài Gòn, tôi cứ lơ mơ nghĩ trong lòng rằng sau này sẽ chạy dọc dọc Việt Nam, uống thử cà phê ở mỗi vùng với một người mình thích. Cái tính tôi thế, ăn bằng nỗi nhớ, uống bằng cảm xúc, hương vị nhung nhớ nào cũng muốn kiếm người tâm giao để chia sẻ, kiểu như ly cà phê vỉa hè ở Sài Gòn xa lắc cũng muốn có người vào uống chung vậy đó.
Nói chung là nhớ cà phê Sài Gòn…
Theo May (Saigon Ẩm Thực)
Du lịch, GO!
Sáng nay, tôi chiều chuộng bản thân bằng cách pha một ly cà phê đúng ngĩa, chẳng lười biếng xé gói cà phê pha sẵn đổ vào cốc như mọi hôm. Mùa đông, nên cà phê nóng. Không đâu mà tôi lại nhớ đến ly cà phê sữa đá trong trẻo mát lạnh của Sài Gòn. Hay bất cứ lúc nào nhớ đến cà phê, tôi cũng nhớ cà phê Sài Gòn, không rõ nữa…
Đi Sài Gòn dăm ba bận, hỏi tôi nhớ gì nhất, lần nào cũng chỉ là cà phê. Chẳng dám nhận mình là người sành sỏi, tôi uống cà phê bằng cảm xúc nhiều hơn là hương vị. Mỗi khi đặt chân tới một vùng đất nào đó, tôi có thói quen nếm thử cà phê của họ, cảm nhận đặc trưng của nền văn hóa ấy qua vị đắng ngọt của những giọt hổ phách nguyên lành trong trẻo, ngắm những người ở xung quanh mình, nghe cách họ gọi, cách họ uống để chiêm nghiệm và mỉm cười... Ai đó đã nói với tôi về cà phê Sài Gòn từ khi mảnh đất này với tôi vẫn còn xa lạ, rằng Sài Gòn cà phê sữa đá, Hà Nội trà đá vỉa hè. Ấn tượng ấy rõ nét đến nỗi lần đầu tiên bước chân vào nơi đây, việc đầu tiên tôi làm là…đi uống cà phê, dẫu phải dầm ướt sũng trong cơn mưa hạ cuối mùa.
Lần đầu tiên gọi cà phê ở Sài Gòn, tôi buột miệng gọi “nâu đá” như thói quen ở Hà Nội. Thấy cậu bé phục vụ thoáng bối rối, mới nhớ ra ở Sài Thành không có nâu đá mà chỉ có cà phê sữa đá. Sau này, đi cà phê Sài gòn với bạn, dù luôn được bạn ân cần hỏi: “Em uống gì?”, nhưng vẫn cứ thích tự mình gọi bởi cái cách người Sài Gòn kêu " Cà phê sữa đá" thật quá ư dễ thương. Về Hà Nội lại phải gọi “nâu”, “đen” để tránh làm bạn nhân viên miền Bắc “bối rối” lần nữa mà đôi khi thèm một giọng Sài Gòn thiệt ngọt: “Dạ một cà phê sữa đá có liền”. Dulichgo
Cà phê Sài Gòn uống nhạt nhưng thơm tinh khiết và êm ái, màu nâu ánh khi pha thêm sữa thì chuyển thành hổ phách trong trẻo, trông “đáng yêu” hơn ly cà phê có màu đen kịt mà không hiểu sao có người vẫn chuộng. Có lẽ bởi cái xứ này nóng nên đá viên trong ly bao giờ cũng rất nhiều, báo hại tôi sau này đi uống cà phê Hà Nội cũng đòi thật nhiều đá, để rồi lại rầu lòng vì mấy bạn nhân viên mang ra hổng phải đá viên nhỏ xíu trong trong như ở Sài Gòn. Cà phê đựng trong cái ly thủy tinh cao cao, đá viên nhỏ xíu lúc lắc, bưng lên là ngó được cả trời xanh mây trắng bên trong. Uống được phân nửa, tôi thích cầm ly lắc qua lắc lại cho đá kêu lanh canh. Cái thú ấy, cứ phải vào Sài Gòn uống cà phê mới thích chơi.
Với một kẻ ghiền cà phê, Sài Gòn chiều chuộng tôi quá đỗi khi mà thứ đồ uống ấy phủ khắp mọi nơi, cần là có liền. Quán sang đắt đỏ, cà phê vỉa hè, cà phê đựng trong ly nhựa thong dong dạo công viên… kiểu gì cũng có nét riêng rất đỗi Sài Gòn. Tôi nhớ lần vào Sài Gòn gần nhất, vì bạn kể thường ngồi uống cà phê từ tờ mờ sáng ở hông chợ Bến Thành, vậy là tôi cũng lui cui dậy từ 5 giờ sáng, chạy ra đó cà phê cùng với bạn. Hai ly cà phê sữa đá, một chiếc ấm nhôm đựng nước, chúng tôi ngồi nhìn Sài Gòn tỉnh dậy, hoặc Sài Gòn chưa bao giờ ngủ đang ngắm nhìn tôi.
Hoặc một lần vào Sài Gòn xa xa hơn nữa, đi cà phê ở một quán… hơi sang, gặp một cậu nhân viên dễ thương có giọng nói ngọt ơi là ngọt, chốc chốc lại: “Xin phép để em rót thêm nước cho chị”. Mình ghé tai anh bạn thì thầm: “Phục vụ ở Sài Gòn dễ thương quá”, vậy mà cậu nghe thấy, quay lại nở nụ cười còn ấm hơn cả cái nắng Sài Thành đang rực rỡ ngoài kia. Dulichgo
Vì lỡ thích cà phê Sài Gòn, tôi cứ lơ mơ nghĩ trong lòng rằng sau này sẽ chạy dọc dọc Việt Nam, uống thử cà phê ở mỗi vùng với một người mình thích. Cái tính tôi thế, ăn bằng nỗi nhớ, uống bằng cảm xúc, hương vị nhung nhớ nào cũng muốn kiếm người tâm giao để chia sẻ, kiểu như ly cà phê vỉa hè ở Sài Gòn xa lắc cũng muốn có người vào uống chung vậy đó.
Nói chung là nhớ cà phê Sài Gòn…
Theo May (Saigon Ẩm Thực)
Du lịch, GO!
Saturday, January 17, 2015
Săn “tê giác bay”.
Ở những bản làng ven khu bảo tồn Pù Hu (huyện Mường Lát), con bọ cánh cứng có thân hình đen nhẫy, to như ngón chân cái này là đặc sản trứ danh!
Khi lao vào trận chiến khốc liệt để giành giật bạn tình, con trâu tre đực khép chặt đôi cánh đen bóng tạo thành tấm áo giáp, dùng chiếc sừng nhọn hoắt trên đầu húc, ghìm hoặc nhấc bổng rồi quật ngã đối thủ. Người dân miền tây xứ Thanh ví nó như những con “tê giác bay”.
Con vật đa tình
Thoạt nhìn, người ta bảo trâu tre là con bọ hung (loài côn trùng ăn phân, rúc ráy trong hố xí bẩn thỉu). Chỉ nghĩ đến chuyện thò tay cầm lên đã thấy dơ bẩn rồi, ai dám chế biến thành món ăn?
Vậy mà, ở những bản làng ven khu bảo tồn Pù Hu (huyện Mường Lát, Thanh Hóa), con bọ cánh cứng có thân hình đen nhẫy, to như ngón chân cái này lại là đặc sản trứ danh. Nó quý hiếm đến nỗi người có tiền cũng khó có thể mua được. Dulichgo
Người già của bản Tà Cóm (xã Trung Lý) bảo rằng, cứ đến mùa mưa, những con trâu tre lại bới đất đào hang dưới gốc xoan rồi rủ bạn tình về “yêu đương”. Con đực càng to, càng khỏe thì càng thu hút con cái. Nhiều người đã từng đào được một cái hang trâu tre 12-15 con cái vây quanh con đực to như cái chén (bình thường mỗi hang chỉ có 1 con đực và 3 - 4 con cái).

< Trâu tre thường đào hang ở gốc và rễ cây xoan để hút nhựa.
“Tê giác bay” tính khí hung tàn, tợn bạo. Con khỏe hơn thường xâm lấn sang lãnh thổ của kẻ yếu để cướp bạn tình. Chúng đánh nhau chí tử cho đến khi một con phải đầu hàng bỏ chạy. Nắm bắt được tập tính ấy, người Mông ở bản Tà Cóm đã nghĩ ra trò trọi trâu tre để mua vui. Có khi, trò vui biến tướng thành một cuộc thách đấu. Con trâu tre của ai bị hạ gục sẽ phải thực thi theo đúng giao kèo.Với người lớn, vật thách đấu thường là một con gà; một ngày công phát cỏ nương hoặc 3 chai rượu.
Thời trẻ, Phàng A Chỉnh (39 tuổi, ngụ tại bản Tà Cóm) là một tay săn trâu tre trọi đẳng cấp. Anh thường luồn sâu vào những khu đất rậm rạp và hẻo lánh tìm những gốc xoan to lớn để đào bới. "Mấy năm trước, tôi bắt được một con trâu tre đực to như cái chuôi dao, sừng dài gần 3cm. Sáu cái chân của nó nhiều lông, cào xước cả da. Hai cánh đập cành cạch giãy giụa như quạt cóc đang chạy. Đem về thách đấu với những con khác, cùng lắm nó vung hai ba đòn là đối thủ phải bỏ chạy. Sau mỗi cuộc đấu, thịt, rượu ăn xả láng”, Chỉnh chia sẻ.

< Cuộc đấu giữa những chú trâu tre đực.
Một buổi săn trâu tre Thấy tôi hiếu kỳ câu chuyện về con “tê giác bay”, Thào A Sang (em trai trưởng bản Tà Cóm Thào A Thái) cho tôi “bám đuôi” một buổi săn trâu tre. Đồ nghề của Sang chỉ có một túi vải, một cây thuổng, một cái cuốc và con dao cài thắt lưng. Sang bảo: “Mùa này mưa ít, đất cứng rồi, trâu tre cái đã đẻ xong trứng và chuẩn bị chết cùng con đực vì rét quá. Anh thấy cái hang nào nằm ở gốc cây xoan có nhiều mối thì bỏ qua, vì đào cũng chỉ tìm thấy xác con trâu tre”.
Chúng tôi tiến đến một gốc xoan bị đào bới tứ tung, chỉ còn trơ bộ rễ phía lưng đồi Suối Pùng. Tưởng rằng không còn sót một sinh vật sống nhưng Sang không bỏ qua. Anh lom khom dòm ngó một lúc, chợt thấy mấy cái lỗ hổng nhỏ như đầu ngón tay cách thân cây 2m. Cầm lưỡi thuổng hảy hảy lớp đất mặt, một cái hang to như cổ tay người lớn bỗng xuất hiện. Thợ săn trâu tre cười mừng rỡ: “Đây rồi! Tối nay chắc chắn có đồ nhắm rượu”.

< Một cây xoan bị đào tận rễ để bắt trâu tre.
Hang trâu tre tuy to nhưng không sâu mà chạy dọc theo rễ cây, bởi nhựa xoan chính là thức ăn của chúng. Đi rừng thường nhật như con nai, con hoẵng, Sang thống kê từ khu Suối Quặp đến suối Pùng có khoảng 6.000 cây xoan to cỡ cột nhà. Riêng khu suối Quặp đường đi rậm rạp nên nhiều người ngán, ai chịu được gai mây cào xước chui vào đào hang trâu tre thì vớ bở. Một gốc nhặt được 3-4 kg là chuyện thường. Dulichgo
“Mới đây, một người ở bản Chiền đi cùng thằng Hờ A Pó lên sát khu bảo tồn Pù Hu đào một buổi sáng được 1 yến trâu tre. Hai người rủ nhau phi xuống khu thủy điện Trung Sơn bán 200.000 đồng/kg. Cánh công nhân ở đấy tranh nhau mua. Nếu không muốn đi xa, chỉ cần ra mấy bản người Thái ở dọc sông Mã bán 150.000 đồng/kg, chẳng cần kỳ kèo làm gì cho mệt”, Sang nói.

< Thào A Sang với chiến lợi phẩm sau một giờ đào trâu tre.
Ngoài cách đào hang, có một tuyệt chiêu khác dẫn dụ đàn trâu tre tự tìm đến mà không cần tốn sức. Đó là thắp đèn. Sang lý giải, những con bọ cánh cứng thường sử dụng mặt trăng hay các ngôi sao để làm “la bàn” định hướng di chuyển. Khi thấy ánh sáng, nghĩa là đường đi không có chướng ngại vật. Chúng bay thẳng về phía đó để kiếm ăn. “Con thiêu thân hay con trâu tre tự lao vào đống lửa hay bóng đèn rồi chết không phải vì nó ngu dốt, mà vì nó khôn quá đấy anh ạ”, Sang khoe sự hiểu biết côn trùng của mình.
Trưởng bản Thào A Thái kể, tháng 7.2007, Bí thư Đảng ủy xã Trung Lý công tác tại Tà Cóm. Việc xong xuôi cũng là lúc mặt trời lặn. Bản nằm cách trung tâm xã 48 km nên đành nghỉ lại qua đêm. Chẳng mấy khi có cán bộ to đến, dân bản bảo nhau mổ lợn thiết đãi. Bóng điện dẫn ra ngoài trời để thái thịt, đúc dồi. Bỗng từ đâu có đàn trâu tre kéo đến. Dân bản thu được đầy túi vải. Ông Bí thư thấy thế ra xem rồi bảo: “Ai muốn ăn thịt thì cứ ăn nhé. Chỗ trâu tre này dành phần tôi”. Dulichgo

< Những xiên trâu tre nướng bốc mùi thơm lừng.
Trong khi trưởng bản Thào A Thái kể chuyện về con “tê giác bay”, ông em trai Thào A Sùng hí hoáy vặt cánh trâu tre, cắt bỏ phần chân dưới rồi xé đít moi sạch ruột ra ngoài. Sau khi rửa sạch nước, Sùng đặt con vật xuống thớt rồi cầm nghiêng dao đập dập xương. Cô vợ cầm một gói nụ mắc khén đã nướng, ống muối, mì chính và lá chanh thái nhỏ để tẩm ướp gia vị. Phía trong bếp, than hoa đã đỏ hồng. Hương thơm ngào ngạt từ những xiên thịt trâu tre được hơi nóng đẩy lên, lan tỏa khắp không gian. Mấy đứa trẻ gần đó không chịu được sức hút của thứ mùi quyến rũ xúm xít lại ngồi.
Không ai nói, nhưng cái nhìn thèm thuồng của chúng nhắc tôi biết rằng miệng ai cũng nuốt nước bọt ừng ực. Kéo con trâu tre đang bốc khói nóng hôi hổi khỏi xiên, đưa lên miệng nhai, mùi thơm giòn của xương cùng vị ngọt dai như da bê đánh thức vị giác cực đại.
Thào A Sự, một người dân trong bản, nhìn kiểu ăn ngon lành của tôi cười phá tan không gian yên lặng của rừng núi rồi bảo: “Ngon chứ nhà báo? Kiểu ni, cảm xúc viết phóng sự lên cao ngút trời. Nhớ quảng bá cho sản vật của quê hương tôi hay ho tí nhé”. Sự bật mí, nếu không kiếm được than hoa nướng, có thể ướp gia vị rồi rang lên. Nhớ không được để lửa to, nếu bị cháy ăn sẽ có mùi hơi khét.
Theo Phùng Minh Phúc (Nông Nghiệp VN)
Du lịch, GO!
Khi lao vào trận chiến khốc liệt để giành giật bạn tình, con trâu tre đực khép chặt đôi cánh đen bóng tạo thành tấm áo giáp, dùng chiếc sừng nhọn hoắt trên đầu húc, ghìm hoặc nhấc bổng rồi quật ngã đối thủ. Người dân miền tây xứ Thanh ví nó như những con “tê giác bay”.
Con vật đa tình
Thoạt nhìn, người ta bảo trâu tre là con bọ hung (loài côn trùng ăn phân, rúc ráy trong hố xí bẩn thỉu). Chỉ nghĩ đến chuyện thò tay cầm lên đã thấy dơ bẩn rồi, ai dám chế biến thành món ăn?
Vậy mà, ở những bản làng ven khu bảo tồn Pù Hu (huyện Mường Lát, Thanh Hóa), con bọ cánh cứng có thân hình đen nhẫy, to như ngón chân cái này lại là đặc sản trứ danh. Nó quý hiếm đến nỗi người có tiền cũng khó có thể mua được. DulichgoNgười già của bản Tà Cóm (xã Trung Lý) bảo rằng, cứ đến mùa mưa, những con trâu tre lại bới đất đào hang dưới gốc xoan rồi rủ bạn tình về “yêu đương”. Con đực càng to, càng khỏe thì càng thu hút con cái. Nhiều người đã từng đào được một cái hang trâu tre 12-15 con cái vây quanh con đực to như cái chén (bình thường mỗi hang chỉ có 1 con đực và 3 - 4 con cái).

< Trâu tre thường đào hang ở gốc và rễ cây xoan để hút nhựa.
“Tê giác bay” tính khí hung tàn, tợn bạo. Con khỏe hơn thường xâm lấn sang lãnh thổ của kẻ yếu để cướp bạn tình. Chúng đánh nhau chí tử cho đến khi một con phải đầu hàng bỏ chạy. Nắm bắt được tập tính ấy, người Mông ở bản Tà Cóm đã nghĩ ra trò trọi trâu tre để mua vui. Có khi, trò vui biến tướng thành một cuộc thách đấu. Con trâu tre của ai bị hạ gục sẽ phải thực thi theo đúng giao kèo.Với người lớn, vật thách đấu thường là một con gà; một ngày công phát cỏ nương hoặc 3 chai rượu.
Thời trẻ, Phàng A Chỉnh (39 tuổi, ngụ tại bản Tà Cóm) là một tay săn trâu tre trọi đẳng cấp. Anh thường luồn sâu vào những khu đất rậm rạp và hẻo lánh tìm những gốc xoan to lớn để đào bới. "Mấy năm trước, tôi bắt được một con trâu tre đực to như cái chuôi dao, sừng dài gần 3cm. Sáu cái chân của nó nhiều lông, cào xước cả da. Hai cánh đập cành cạch giãy giụa như quạt cóc đang chạy. Đem về thách đấu với những con khác, cùng lắm nó vung hai ba đòn là đối thủ phải bỏ chạy. Sau mỗi cuộc đấu, thịt, rượu ăn xả láng”, Chỉnh chia sẻ.

< Cuộc đấu giữa những chú trâu tre đực.
Một buổi săn trâu tre Thấy tôi hiếu kỳ câu chuyện về con “tê giác bay”, Thào A Sang (em trai trưởng bản Tà Cóm Thào A Thái) cho tôi “bám đuôi” một buổi săn trâu tre. Đồ nghề của Sang chỉ có một túi vải, một cây thuổng, một cái cuốc và con dao cài thắt lưng. Sang bảo: “Mùa này mưa ít, đất cứng rồi, trâu tre cái đã đẻ xong trứng và chuẩn bị chết cùng con đực vì rét quá. Anh thấy cái hang nào nằm ở gốc cây xoan có nhiều mối thì bỏ qua, vì đào cũng chỉ tìm thấy xác con trâu tre”.
Chúng tôi tiến đến một gốc xoan bị đào bới tứ tung, chỉ còn trơ bộ rễ phía lưng đồi Suối Pùng. Tưởng rằng không còn sót một sinh vật sống nhưng Sang không bỏ qua. Anh lom khom dòm ngó một lúc, chợt thấy mấy cái lỗ hổng nhỏ như đầu ngón tay cách thân cây 2m. Cầm lưỡi thuổng hảy hảy lớp đất mặt, một cái hang to như cổ tay người lớn bỗng xuất hiện. Thợ săn trâu tre cười mừng rỡ: “Đây rồi! Tối nay chắc chắn có đồ nhắm rượu”.

< Một cây xoan bị đào tận rễ để bắt trâu tre.
Hang trâu tre tuy to nhưng không sâu mà chạy dọc theo rễ cây, bởi nhựa xoan chính là thức ăn của chúng. Đi rừng thường nhật như con nai, con hoẵng, Sang thống kê từ khu Suối Quặp đến suối Pùng có khoảng 6.000 cây xoan to cỡ cột nhà. Riêng khu suối Quặp đường đi rậm rạp nên nhiều người ngán, ai chịu được gai mây cào xước chui vào đào hang trâu tre thì vớ bở. Một gốc nhặt được 3-4 kg là chuyện thường. Dulichgo
“Mới đây, một người ở bản Chiền đi cùng thằng Hờ A Pó lên sát khu bảo tồn Pù Hu đào một buổi sáng được 1 yến trâu tre. Hai người rủ nhau phi xuống khu thủy điện Trung Sơn bán 200.000 đồng/kg. Cánh công nhân ở đấy tranh nhau mua. Nếu không muốn đi xa, chỉ cần ra mấy bản người Thái ở dọc sông Mã bán 150.000 đồng/kg, chẳng cần kỳ kèo làm gì cho mệt”, Sang nói.

< Thào A Sang với chiến lợi phẩm sau một giờ đào trâu tre.
Ngoài cách đào hang, có một tuyệt chiêu khác dẫn dụ đàn trâu tre tự tìm đến mà không cần tốn sức. Đó là thắp đèn. Sang lý giải, những con bọ cánh cứng thường sử dụng mặt trăng hay các ngôi sao để làm “la bàn” định hướng di chuyển. Khi thấy ánh sáng, nghĩa là đường đi không có chướng ngại vật. Chúng bay thẳng về phía đó để kiếm ăn. “Con thiêu thân hay con trâu tre tự lao vào đống lửa hay bóng đèn rồi chết không phải vì nó ngu dốt, mà vì nó khôn quá đấy anh ạ”, Sang khoe sự hiểu biết côn trùng của mình.
Trưởng bản Thào A Thái kể, tháng 7.2007, Bí thư Đảng ủy xã Trung Lý công tác tại Tà Cóm. Việc xong xuôi cũng là lúc mặt trời lặn. Bản nằm cách trung tâm xã 48 km nên đành nghỉ lại qua đêm. Chẳng mấy khi có cán bộ to đến, dân bản bảo nhau mổ lợn thiết đãi. Bóng điện dẫn ra ngoài trời để thái thịt, đúc dồi. Bỗng từ đâu có đàn trâu tre kéo đến. Dân bản thu được đầy túi vải. Ông Bí thư thấy thế ra xem rồi bảo: “Ai muốn ăn thịt thì cứ ăn nhé. Chỗ trâu tre này dành phần tôi”. Dulichgo

< Những xiên trâu tre nướng bốc mùi thơm lừng.
Trong khi trưởng bản Thào A Thái kể chuyện về con “tê giác bay”, ông em trai Thào A Sùng hí hoáy vặt cánh trâu tre, cắt bỏ phần chân dưới rồi xé đít moi sạch ruột ra ngoài. Sau khi rửa sạch nước, Sùng đặt con vật xuống thớt rồi cầm nghiêng dao đập dập xương. Cô vợ cầm một gói nụ mắc khén đã nướng, ống muối, mì chính và lá chanh thái nhỏ để tẩm ướp gia vị. Phía trong bếp, than hoa đã đỏ hồng. Hương thơm ngào ngạt từ những xiên thịt trâu tre được hơi nóng đẩy lên, lan tỏa khắp không gian. Mấy đứa trẻ gần đó không chịu được sức hút của thứ mùi quyến rũ xúm xít lại ngồi.
Không ai nói, nhưng cái nhìn thèm thuồng của chúng nhắc tôi biết rằng miệng ai cũng nuốt nước bọt ừng ực. Kéo con trâu tre đang bốc khói nóng hôi hổi khỏi xiên, đưa lên miệng nhai, mùi thơm giòn của xương cùng vị ngọt dai như da bê đánh thức vị giác cực đại.
Thào A Sự, một người dân trong bản, nhìn kiểu ăn ngon lành của tôi cười phá tan không gian yên lặng của rừng núi rồi bảo: “Ngon chứ nhà báo? Kiểu ni, cảm xúc viết phóng sự lên cao ngút trời. Nhớ quảng bá cho sản vật của quê hương tôi hay ho tí nhé”. Sự bật mí, nếu không kiếm được than hoa nướng, có thể ướp gia vị rồi rang lên. Nhớ không được để lửa to, nếu bị cháy ăn sẽ có mùi hơi khét.
Theo Phùng Minh Phúc (Nông Nghiệp VN)
Du lịch, GO!
Friday, January 16, 2015
Món ăn sáng hấp dẫn ở Phan Rang
(VNE) - Tô bánh canh nóng hổi, chiếc bánh xèo bốc khói nghi ngút hay miếng sứa giòn sực... là những món quà sáng thơm ngon dễ dàng chinh phục được du khách.
Nói đến xứ sở Phan Rang, nhiều người hình dung đến khung cảnh màu xanh thơ mộng của bãi biển, những dải cát dài hoang sơ quyến rũ. Thế nhưng, vùng đất đầy nắng gió này còn sở hữu ẩm thực đa dạng cuốn hút bạn ngay từ cái nhìn đầu tiên.
Bánh canh chả cá
Là món ăn được bày bán nhiều ở Phan Rang nên du khách có thể tìm thấy dễ dàng. Một tô bánh canh nóng hổi sẽ gồm sợi bánh, chả cá, cá dầm, ngò thơm, hành lá và phía trên rắc thêm chút tiêu đen. Thực khách khi thưởng thức sẽ pha thêm chút mắm ớt cay cay và vắt thêm miếng chanh cho vừa miệng. Sợi bánh canh to vừa phải, cọng bánh bản mỏng đặc trưng, khi ăn cảm nhận rõ độ mềm, mịn và dẻo, khác lạ rõ rệt so với những vùng khác.
Trong tô bánh canh phải nhắc đến những miếng chả cá tươi ngon. Chả được làm từ loại cá của vùng biển địa phương như nhồng, rựa, thác lác... Cá này phải được mua từ sáng sớm tinh mơ ở các cảng biển. Người làm sẽ lóc phần thịt cá ra để làm chả, phần xương đem đi cho vào nồi nước lèo để thêm vị ngọt. Để thưởng thức món ăn tròn vị, bạn có thể đến quán Nhường trên đường Ngô Gia Tự. Dulichgo
Bánh xèo
Du khách đến Phan Rang đừng nên bỏ qua món bánh xèo. Vị của bánh xèo Phan Rang khác hẳn với loại bánh ở vùng đất Nam bộ. Bánh được làm từ bột gạo, đổ bằng khuôn của gốm Chăm Bàu Trúc, nhân bánh là thịt, trứng và các loại hải sản như tôm, mực... Chiếc bánh được đổ một lớp mỏng, nhỏ xinh, phủ lên trên là giá đỗ và nhân. Chờ tới khi bánh chín vàng rụm, mùi thơm phức bốc lên, người bán sẽ dùng vá dẹp để cạy bánh.
Vào những ngày trời se mát, mọi người ngồi quây quần bên lò than hồng rực, thưởng thức chiếc bánh xèo nóng hổi, vàng giòn... giúp thực khách cảm nhận được nét tinh túy của ẩm thực Phan Rang. Bạn có thể thưởng thức món bánh xèo dọc vỉa hè đường Quang Trung.
Bánh căn
Có hình dáng bé nhỏ như chiếc bánh khọt Nam bộ, bánh căn là món ăn dân dã ở đây. Phần nhân bánh được chế biến với nhiều hương vị đặc trưng hấp dẫn. Nguyên liệu chính là bột gạo. Từ cách ngâm bột, pha trộn thêm cơm nguội khi xay nhuyễn cho đến đo lường lượng nước và gạo đều được thực hiện kỹ lưỡng để bánh không bị nhão hoặc cháy khi nướng. Dulichgo
Ngay từ lúc tờ mờ sáng, người làm đã tất bật quạt than, nướng lò. Bánh căn phải nướng trên lò than hồng. Khi khuôn bánh tỏa ra hơi nóng, họ sẽ đổ bột vào. Chiếc bánh căn trắng tinh, nóng hổi, nhân bánh cho thêm mực, trứng, thịt, tôm... tùy theo ý thích người ăn. Bánh vừa chín tới, người bán sẽ cạy ra rồi thả ngay vào tô hành lá xắt nhuyễn. Chiếc bánh được điểm thêm màu sắc nên nhìn càng ngon hơn. Bánh căn phải được ăn kèm với nước cá kho, cho thêm xíu mại, trứng luộc, nước mắm xoài, mắm cái, mắm đậu phộng...
Bún sứa
Sứa bắt đầu xuất hiện vào mùa đông và gia tăng số lượng nhiều vào mùa xuân, những mùa còn lại khá hiếm hoi. Chính vì vậy, không phải lúc nào thực khách cũng được thưởng thức món ăn này. Một tô bún sứa đầy đủ sẽ có bún, sứa tươi, trứng cút, đậu hũ, điểm xuyết thêm những cọng ngò xanh và bên trên rắc thêm vài hạt đậu phộng.
Bún sứa được ăn kèm với bắp chuối, rau muống bào, giá sống và quan trọng nhất là mắm ruốc. Đây chính là gia vị làm cho tô bún thêm phần thi vị hài hòa. Trộn tô bún sứa đều tay và chậm rãi thưởng thức từng miếng sứa, thực khách sẽ cảm nhận rõ vị giòn sực của sứa, vị béo của đậu phộng, đậu hũ hay vị mằn mặn của mắm ruốc. Tất cả pha trộn tạo nên món ăn đậm đà bản sắc.
Theo Văn Trãi (Vnexpress)
Du lịch, GO!
Nói đến xứ sở Phan Rang, nhiều người hình dung đến khung cảnh màu xanh thơ mộng của bãi biển, những dải cát dài hoang sơ quyến rũ. Thế nhưng, vùng đất đầy nắng gió này còn sở hữu ẩm thực đa dạng cuốn hút bạn ngay từ cái nhìn đầu tiên.
Bánh canh chả cá
Là món ăn được bày bán nhiều ở Phan Rang nên du khách có thể tìm thấy dễ dàng. Một tô bánh canh nóng hổi sẽ gồm sợi bánh, chả cá, cá dầm, ngò thơm, hành lá và phía trên rắc thêm chút tiêu đen. Thực khách khi thưởng thức sẽ pha thêm chút mắm ớt cay cay và vắt thêm miếng chanh cho vừa miệng. Sợi bánh canh to vừa phải, cọng bánh bản mỏng đặc trưng, khi ăn cảm nhận rõ độ mềm, mịn và dẻo, khác lạ rõ rệt so với những vùng khác.Trong tô bánh canh phải nhắc đến những miếng chả cá tươi ngon. Chả được làm từ loại cá của vùng biển địa phương như nhồng, rựa, thác lác... Cá này phải được mua từ sáng sớm tinh mơ ở các cảng biển. Người làm sẽ lóc phần thịt cá ra để làm chả, phần xương đem đi cho vào nồi nước lèo để thêm vị ngọt. Để thưởng thức món ăn tròn vị, bạn có thể đến quán Nhường trên đường Ngô Gia Tự. Dulichgo
Bánh xèo
Du khách đến Phan Rang đừng nên bỏ qua món bánh xèo. Vị của bánh xèo Phan Rang khác hẳn với loại bánh ở vùng đất Nam bộ. Bánh được làm từ bột gạo, đổ bằng khuôn của gốm Chăm Bàu Trúc, nhân bánh là thịt, trứng và các loại hải sản như tôm, mực... Chiếc bánh được đổ một lớp mỏng, nhỏ xinh, phủ lên trên là giá đỗ và nhân. Chờ tới khi bánh chín vàng rụm, mùi thơm phức bốc lên, người bán sẽ dùng vá dẹp để cạy bánh.
Vào những ngày trời se mát, mọi người ngồi quây quần bên lò than hồng rực, thưởng thức chiếc bánh xèo nóng hổi, vàng giòn... giúp thực khách cảm nhận được nét tinh túy của ẩm thực Phan Rang. Bạn có thể thưởng thức món bánh xèo dọc vỉa hè đường Quang Trung.
Bánh căn
Có hình dáng bé nhỏ như chiếc bánh khọt Nam bộ, bánh căn là món ăn dân dã ở đây. Phần nhân bánh được chế biến với nhiều hương vị đặc trưng hấp dẫn. Nguyên liệu chính là bột gạo. Từ cách ngâm bột, pha trộn thêm cơm nguội khi xay nhuyễn cho đến đo lường lượng nước và gạo đều được thực hiện kỹ lưỡng để bánh không bị nhão hoặc cháy khi nướng. Dulichgo
Ngay từ lúc tờ mờ sáng, người làm đã tất bật quạt than, nướng lò. Bánh căn phải nướng trên lò than hồng. Khi khuôn bánh tỏa ra hơi nóng, họ sẽ đổ bột vào. Chiếc bánh căn trắng tinh, nóng hổi, nhân bánh cho thêm mực, trứng, thịt, tôm... tùy theo ý thích người ăn. Bánh vừa chín tới, người bán sẽ cạy ra rồi thả ngay vào tô hành lá xắt nhuyễn. Chiếc bánh được điểm thêm màu sắc nên nhìn càng ngon hơn. Bánh căn phải được ăn kèm với nước cá kho, cho thêm xíu mại, trứng luộc, nước mắm xoài, mắm cái, mắm đậu phộng...
Bún sứa
Sứa bắt đầu xuất hiện vào mùa đông và gia tăng số lượng nhiều vào mùa xuân, những mùa còn lại khá hiếm hoi. Chính vì vậy, không phải lúc nào thực khách cũng được thưởng thức món ăn này. Một tô bún sứa đầy đủ sẽ có bún, sứa tươi, trứng cút, đậu hũ, điểm xuyết thêm những cọng ngò xanh và bên trên rắc thêm vài hạt đậu phộng.
Bún sứa được ăn kèm với bắp chuối, rau muống bào, giá sống và quan trọng nhất là mắm ruốc. Đây chính là gia vị làm cho tô bún thêm phần thi vị hài hòa. Trộn tô bún sứa đều tay và chậm rãi thưởng thức từng miếng sứa, thực khách sẽ cảm nhận rõ vị giòn sực của sứa, vị béo của đậu phộng, đậu hũ hay vị mằn mặn của mắm ruốc. Tất cả pha trộn tạo nên món ăn đậm đà bản sắc.
Theo Văn Trãi (Vnexpress)
Du lịch, GO!
Tuesday, January 13, 2015
Khô rắn, đặc sản vùng biên
(TTO) - Xuất hiện nhiều nhất vào mùa nước nổi và kéo dài đến tết, rắn được dân đồng bằng chế biến thành khô, một đặc sản nổi tiếng có một không hai ở vùng biên, ít nơi nào sánh được.
< Khô rắn thành phẩm.
Thịt rắn bây giờ rất quý hiếm, có tiền cũng chưa chắc mua được nhất là các loại rắn ngon, thịt bổ dưỡng. Tuy nhiên, tại các chợ nằm sát biên giới Việt Nam - Campuchia như Vĩnh Hội Đông, Khánh An thuộc huyện An Phú, An Giang lúc nào cũng có nhiều sạp rắn, đa phần là rắn hiền như bông súng, ri voi, ri cá, rắn nước, rắn trun, rắn râu… không nằm trong sách động vật quý hiếm.
< Công đoạn lột da rắn.
Hàng năm, rắn xuất hiện nhiều nhất vào mùa nước nổi và kéo dài cho đến tết. Phần lớn người săn bắt rắn là người Khmer. Họ mang từ biên giới qua Việt Nam bán cho các chủ vựa, sau đó mới lần lượt đi vào nhà hàng, quán ăn và khách du lịch.
Thường khách du lịch chỉ chọn mua những loại rắn lớn, thịt ngon như ri voi, hổ hành. Còn các loại nhỏ người ta thường chế biến thành khô, một đặc sản nổi tiếng, có một không hai ở vùng biên, ít nơi nào sánh được. Dulichgo
< Thịt rắn làm sạch trước khi tẩm ướp gia vị.
Hiện nay tại xã Vĩnh Hội Đông có tới 10 cơ sở làm khô rắn. Ông Lê Văn Tiểu, một người sản xuất khô rắn nổi tiếng, cho biết khô này làm toàn bằng thịt của các loại rắn hiền như bông súng, ri voi, ri cá, rắn râu, rắn nước, rắn trun... Trong đó có loại được dân gian sử dụng làm món ăn vị thuốc như rắn trun.
Vào thời điểm thu mua được nhiều rắn tươi sống, mỗi ngày ông Tiểu xuất trên 20kg khô với giá 250.000-300.000 đồng/kg. Thông thường, muốn có 1kg khô người ta phải cần đến 12kg rắn tươi.
< Thịt rắn ép mỏng thành bánh, đem phơi khô.
Để có được một sản phẩm chất lượng cao, bảo đảm an toàn vệ sinh, trước hết rắn phải lột da, làm sạch, cạo lấy thịt, bỏ xương. Sau đó dùng thịt tẩm ướp với gia vị gồm muối, đường, tiêu, ớt, bột ngọt, xong ép mỏng và phơi khô từ 2-3 nắng. Xong cho vào bao bì, bảo quản thật tốt. Dulichgo
Ngoài đặc sản khô rắn, Vĩnh Hội Đông còn có món khô trăn, cách chế biến cũng như khô rắn nhưng chất lượng không bằng.
< Khô rắn đưa ra thị trường.
Khô rắn khi nướng trên bếp than hồng sẽ có mùi vị thơm phức, lan tỏa khiến ai nghe cũng háo hức đợi chờ. Khi nhập tiệc, chúng ta có thể xé từng thớ thịt vàng ươm, nhai chầm chậm và từ từ nuốt hết chất ngọt, thoảng nghe một mùi thơm ngon khoái khẩu.
Khô rắn hơi dai nhưng không cứng so với khô cá lóc và cá chạch. Đây là món ăn bình dị được chế biến từ nguyên liệu thuần Việt nhưng vô cùng hấp dẫn nhờ hương vị và bí quyết riêng. Muốn cầu kỳ hơn, thực khách có thể nhấm nháp kèm với dưa leo, xoài sống, cóc non và chấm với tương ớt cay cay. Cứ thế mà lai rai hết miếng này tới miếng khác, không chê vào đâu được. Dulichgo
< Khô rắn nướng chín.
Ở nước bạn Campuchia cũng có mặt hàng khô rắn xuất qua Việt Nam, bao bì có nhãn hiệu rất lịch sự, nhưng đối với người sành điệu chỉ khô chế biến tại An Phú mới thơm ngon đậm đà, vừa bảo đảm an toàn vệ sinh. Bà Quách Thị Lan, chủ một cơ sở chế biến cho biết khô rắn hiện nay ngày càng hiếm vì rắn nguyên liệu mỗi năm một giảm nên giá cả cũng tăng cao.
Khô rắn là món ăn chơi, món nhậu. Do đó, nếu có thêm chai rượu thuốc bạn bè chuyền tay nhau không khí càng trở nên ấm cúng, không gì sánh bằng.
Theo Hoài Vũ (Báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
< Khô rắn thành phẩm.
Thịt rắn bây giờ rất quý hiếm, có tiền cũng chưa chắc mua được nhất là các loại rắn ngon, thịt bổ dưỡng. Tuy nhiên, tại các chợ nằm sát biên giới Việt Nam - Campuchia như Vĩnh Hội Đông, Khánh An thuộc huyện An Phú, An Giang lúc nào cũng có nhiều sạp rắn, đa phần là rắn hiền như bông súng, ri voi, ri cá, rắn nước, rắn trun, rắn râu… không nằm trong sách động vật quý hiếm.
< Công đoạn lột da rắn.
Hàng năm, rắn xuất hiện nhiều nhất vào mùa nước nổi và kéo dài cho đến tết. Phần lớn người săn bắt rắn là người Khmer. Họ mang từ biên giới qua Việt Nam bán cho các chủ vựa, sau đó mới lần lượt đi vào nhà hàng, quán ăn và khách du lịch.
Thường khách du lịch chỉ chọn mua những loại rắn lớn, thịt ngon như ri voi, hổ hành. Còn các loại nhỏ người ta thường chế biến thành khô, một đặc sản nổi tiếng, có một không hai ở vùng biên, ít nơi nào sánh được. Dulichgo
< Thịt rắn làm sạch trước khi tẩm ướp gia vị.
Hiện nay tại xã Vĩnh Hội Đông có tới 10 cơ sở làm khô rắn. Ông Lê Văn Tiểu, một người sản xuất khô rắn nổi tiếng, cho biết khô này làm toàn bằng thịt của các loại rắn hiền như bông súng, ri voi, ri cá, rắn râu, rắn nước, rắn trun... Trong đó có loại được dân gian sử dụng làm món ăn vị thuốc như rắn trun.
Vào thời điểm thu mua được nhiều rắn tươi sống, mỗi ngày ông Tiểu xuất trên 20kg khô với giá 250.000-300.000 đồng/kg. Thông thường, muốn có 1kg khô người ta phải cần đến 12kg rắn tươi.
< Thịt rắn ép mỏng thành bánh, đem phơi khô.
Để có được một sản phẩm chất lượng cao, bảo đảm an toàn vệ sinh, trước hết rắn phải lột da, làm sạch, cạo lấy thịt, bỏ xương. Sau đó dùng thịt tẩm ướp với gia vị gồm muối, đường, tiêu, ớt, bột ngọt, xong ép mỏng và phơi khô từ 2-3 nắng. Xong cho vào bao bì, bảo quản thật tốt. Dulichgo
Ngoài đặc sản khô rắn, Vĩnh Hội Đông còn có món khô trăn, cách chế biến cũng như khô rắn nhưng chất lượng không bằng.
< Khô rắn đưa ra thị trường.
Khô rắn khi nướng trên bếp than hồng sẽ có mùi vị thơm phức, lan tỏa khiến ai nghe cũng háo hức đợi chờ. Khi nhập tiệc, chúng ta có thể xé từng thớ thịt vàng ươm, nhai chầm chậm và từ từ nuốt hết chất ngọt, thoảng nghe một mùi thơm ngon khoái khẩu.
Khô rắn hơi dai nhưng không cứng so với khô cá lóc và cá chạch. Đây là món ăn bình dị được chế biến từ nguyên liệu thuần Việt nhưng vô cùng hấp dẫn nhờ hương vị và bí quyết riêng. Muốn cầu kỳ hơn, thực khách có thể nhấm nháp kèm với dưa leo, xoài sống, cóc non và chấm với tương ớt cay cay. Cứ thế mà lai rai hết miếng này tới miếng khác, không chê vào đâu được. Dulichgo
< Khô rắn nướng chín.
Ở nước bạn Campuchia cũng có mặt hàng khô rắn xuất qua Việt Nam, bao bì có nhãn hiệu rất lịch sự, nhưng đối với người sành điệu chỉ khô chế biến tại An Phú mới thơm ngon đậm đà, vừa bảo đảm an toàn vệ sinh. Bà Quách Thị Lan, chủ một cơ sở chế biến cho biết khô rắn hiện nay ngày càng hiếm vì rắn nguyên liệu mỗi năm một giảm nên giá cả cũng tăng cao.
Khô rắn là món ăn chơi, món nhậu. Do đó, nếu có thêm chai rượu thuốc bạn bè chuyền tay nhau không khí càng trở nên ấm cúng, không gì sánh bằng.
Theo Hoài Vũ (Báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Subscribe to:
Posts (Atom)














.jpg)

.jpg)
.jpg)

.jpg)
















