(DVO) - Đỉnh núi Cấm (huyện Tịnh Biên, An Giang) với độ cao khoảng 750 m (so với mặt nước biển) được mệnh danh là “nóc nhà” miền Tây.
< Du khách thập phương thưởng thức món bánh xèo với hàng chục loại rau rừng.
Với độ cao này, núi Cấm thường xuyên được sương mù vây quanh và luôn mát mẻ nên cũng được ví là Đà Lạt 2. Điều kiện tự nhiên nơi đây rất lý tưởng cho các lọai rau rừng phát triển.
< Hương vị đặc trưng riêng của bánh xèo Bảy Núi.
Từ vài năm nay, khi dịch vụ du lịch ở đây phát triển thì nghề hái rau rừng cùng món bánh xèo ở đây cũng “phất” lên nhanh chóng. Du khách thập phương ngày càng ưa chuộng món bánh xèo, ăn với hương vị rau rừng, nên ở núi Cấm đã hình thành những "làng" bánh xèo – rau rừng trong sương mù lãng đãng.
< Phong phú các loại rau.
Đến núi Cấm, du khách thập phương khó lòng làm ngơ trước món bánh xèo ăn cùng với rau rừng. Nào là đọt bứa, đọt muối, đọt dâu rừng, sung rừng, bằng lăng rừng, bơ, sộp, quỷnh, tam lan, cát lồi, chồi mòi, hồng đào, cẩm xuyên, đinh lăng; rồi nào là lá cách, lá gối, thốt nốt, kim thất; rồi nào rau ngành ngạnh, soi nháy, càng cua… đó là chưa kể hàng chục loại rau thơm và cải lá các loại.
< Rau rừng được xem như loài rau đặc sản của vùng Bảy Núi.
Mỗi loại mỗi vị và đặc biệt là loại nào cũng là vị thuốc mà theo đông y thì trị được các chứng đau, nhức, mát gan, bổ thận, nhuận trường …
Chỉ cần gọi một cái bánh xèo (bánh mặn giá từ 10.000 - 15.000 đồng/cái; bánh chay giá từ 8.000 - 10.000 đồng/cái) thực khách có thể thưởng thức với hơn 30 loại rau rừng ăn kèm với bánh. Dulichgo
Rau rừng ở đây còn được mệnh danh là “rau siêu sạch” vì không bị ảnh hưởng bởi bất cứ loại phân, thuốc hóa học nào.
Theo Trọng Bình (Dân Việt)
Du lịch, GO!
Điền Gia Dũng: Rau rừng lạ, ăn cho biết. Tuy nhiên, mùi vị không thể bằng các loại rau thơm miệt đồng bằng.
Tuesday, November 4, 2014
Nhà cổ hơn trăm tuổi ở Đồng Nai
Ngôi nhà của dòng họ Đào ở Phú Hội thuộc huyện Nhơn Trạch được xây dựng từ thế kỷ XIX, kiến trúc xưa đến nay hầu như còn nguyên vẹn. Đây là ngôi nhà được rất nhiều đoàn làm phim tìm đến khi có bối cảnh quay về lịch sử, thời xa xưa.
Theo Phòng VHTT H.Nhơn Trạch, nhà cổ họ Đào được ông Đào Mỹ Thiền (con trai thứ 4 trong dòng tộc họ Đào) xây cất vào cuối thế kỷ XIX (1898). Thời kỳ đó gia tộc họ Đào là một trong những phú gia vùng đất Phú Hội. Ngôi nhà được xây dựng trong 3 năm với kinh phí vào loại bậc nhất thời bấy giờ. Người dân vùng Phú Hội thường gọi bằng cái tên Nhà hội đồng Liêu.
< Thiết kế theo kiểu nhà chữ đinh, không gian sinh hoạt truyền thống. Nhà trên là nơi thờ phụng, tiếp khách đồng thời là chỗ ngủ của các thành viên nam trong gia đình.Nhà dưới là nơi nghỉ và tiếp khách thân thuộc dành riêng cho các thành viên nữ.
< Nhà gồm 3 gian 2 chái với 48 cột gỗ căm xe chia thành 8 hàng. Khung nhà thuộc loại nhà xuyên trính. Cây xuyên được chạy chỉ thẳng tắp nối kết 3 gian nhà chính, trính được chạy chỉ uốn cong như cánh én.
Ngôi nhà có tổng diện tích 466m2 với nhà trên là nơi thờ phụng, tiếp khách đồng thời là nơi ngủ của các thành viên nam trong gia đình. Nhà dưới là nơi nghỉ và tiếp khách dành riêng cho các thành viên nữ. Phần mở rộng gồm nhà bếp và kho chứa thóc gạo.
< Nhà cổ họ Đào khác với các nhà cổ khác ở phía Nam chính là sự bảo tồn hầu như còn nguyên vẹn từ ngày được xây dựng cho đến nay. Chính vì điều đó, nhiều đạo diễn làm phim cổ trang thường chọn nơi đây làm bối cảnh cho phim của mình.
Khung nhà tổng cộng có tới 114 cột, trong đó có 48 cột bằng gỗ căm xe đen. Cây xuyên được chạy chỉ thẳng tắp nối kết 3 gian nhà chính.
< Nhà trên thoáng đãng vẫn giữ nguyên không gian nội thất cổ kính của thuở tạo lập như bộ trường kỷ, bàn hột xoài, tủ thờ, phản gỗ, hệ thống bao lam… và tuân thủ chặt chẽ cách bày trí gồm nội tự (trong thờ cúng) và ngoại khách (ngoài tiếp khách).
Mối nối các đoạn kèo được liên kết với nhau tài tình trong nét chạm trổ tinh tế và điêu luyện. Hai bên hông và mặt dưới của vì kèo đều được chạm khắc các biểu tượng mai điểu, trúc tước, tùng lộ, bút thư….
< Mối nối các đoạn kèo được liên kết với nhau trong nét chạm trổ điêu luyện. Hai bên hông và mặt dưới của vì kèo được chạm khắc mai điểu, trúc tước, tùng lộ, bút thư… cùng hệ thống dây lá đan xen hài hòa.
Đầu kèo mái hiên được cách điệu 6 đầu rồng hòa lẫn trong nét chạm trổ hoa lá vươn mình đỡ mái hiên. Các bộ phận cấu thành khung nhà đều liên kết chặt chẽ vơi nhau bằng hệ thống mộng chốt. Ngoài ra, trong gian nhà chính còn 11 bức hoành phi, 8 cặp liễn đối bằng chữ Hán và được sơn son thếp vàng. Nội thất được sử dụng và thờ tự bao đời nay đều nguyên vẹn như: bộ trường kỷ, bàn hột xoài, tủ thờ, phản gỗ, hệ thống bao lam.
< Những thiết kế cổ với bao lam, bàn ghế, tủ thờ, khuôn bông, cánh én, cửa, vì kèo… chạm trổ tinh vi, sống động đã thể hiện khối óc sáng tạo, bàn tay tài hoa của đội ngũ nghệ nhân dân gian xưa cũng như dấu ấn điêu khắc, kiến trúc thế kỷ XIX.
Cửa trước của ngôi nhà cũng được trang trí rất công phu, cầu kỳ. Mỗi một khung cửa là một mảng kiến trúc độc lập với những cánh én, khuôn bông đối xứng nhau, trổ trên đấy những dây leo, hoa lá, hồi văn, quyển thư, nho sóc, mai điểu…đan xen nhịp nhàng.
< Nhiều đồ dùng cổ vẫn còn được lưu giữ trong ngôi nhà này như đèn dầu, bình gốm, các bức bình phong...
Tính đến nay ngôi nhà đã truyền qua 3 thế hệ, người đang nắm giữ trọng trách giữ gìn tài sản của tổ tiên là ông Đào Trí Ngọc (nay đã 92 tuổi), mọi việc trông coi hầu như giao cho người con trai là anh Đào Mỹ Trí Nhân lo liệu.
< Mái hiên nhà cổ kính, trang nghiêm không khác gì những phủ quan lại thời Nguyễn ở cố đô Huế hay Gia Đình xưa.
Trao đổi với chúng tôi, anh Nhân cho biết ngôi nhà đã được nhiều đoàn làm phim sử dụng làm bối cảnh trong các cảnh quay lịch sử, cổ xưa. Ngôi nhà tham gia đóng phim đã hơn 10 năm nay, từ các đoàn làm phim của TP.HCM đến các tỉnh ở miền Tây.
Ngoài phim lịch sử thì các phim cho thiếu nhi như cổ tích VN, hài kịch cũng tìm đến. một số bộ phim nổi tiếng đã từng quay cảnh ở đây như: Lục Vân Tiên, Ma Mười (VN hợp tác với Hàn Quốc), Bình Tây Đại Nguyên Soái… Ngoài ra theo anh Nhân, hàng năm ngoài các đoàn làm phim thì ngôi nhà đón tiếp rất nhiều đoàn khách trong và ngoài nước tới tham quan, nghiên cứu kiến trúc cổ của dân tộc.
Theo thống kê của BQL Di tích danh thắng Đồng Nai, xã Phú Hội có 16 ngôi nhà niên đại trên 100 năm, riêng nhà cổ họ Đào nằm trong số 25 ngôi nhà cổ tiêu biểu của tỉnh được Cục di sản văn hóa phối hợp với Cục tài sản văn hóa Nhật Bản tiến hành kiểm kê, đo vẽ kiến trúc. Mới đây, Trung tâm xúc tiến du lịch Đồng Nai đã chọn nhà cổ họ Đào là một điểm đến trong tour du lịch mới đến Nhơn Trạch.
Tổng hợp từ Thanh Niên, Vnexpress
Du lịch, GO!
Theo Phòng VHTT H.Nhơn Trạch, nhà cổ họ Đào được ông Đào Mỹ Thiền (con trai thứ 4 trong dòng tộc họ Đào) xây cất vào cuối thế kỷ XIX (1898). Thời kỳ đó gia tộc họ Đào là một trong những phú gia vùng đất Phú Hội. Ngôi nhà được xây dựng trong 3 năm với kinh phí vào loại bậc nhất thời bấy giờ. Người dân vùng Phú Hội thường gọi bằng cái tên Nhà hội đồng Liêu.
< Thiết kế theo kiểu nhà chữ đinh, không gian sinh hoạt truyền thống. Nhà trên là nơi thờ phụng, tiếp khách đồng thời là chỗ ngủ của các thành viên nam trong gia đình.Nhà dưới là nơi nghỉ và tiếp khách thân thuộc dành riêng cho các thành viên nữ.
< Nhà gồm 3 gian 2 chái với 48 cột gỗ căm xe chia thành 8 hàng. Khung nhà thuộc loại nhà xuyên trính. Cây xuyên được chạy chỉ thẳng tắp nối kết 3 gian nhà chính, trính được chạy chỉ uốn cong như cánh én.
Ngôi nhà có tổng diện tích 466m2 với nhà trên là nơi thờ phụng, tiếp khách đồng thời là nơi ngủ của các thành viên nam trong gia đình. Nhà dưới là nơi nghỉ và tiếp khách dành riêng cho các thành viên nữ. Phần mở rộng gồm nhà bếp và kho chứa thóc gạo.
< Nhà cổ họ Đào khác với các nhà cổ khác ở phía Nam chính là sự bảo tồn hầu như còn nguyên vẹn từ ngày được xây dựng cho đến nay. Chính vì điều đó, nhiều đạo diễn làm phim cổ trang thường chọn nơi đây làm bối cảnh cho phim của mình.
Khung nhà tổng cộng có tới 114 cột, trong đó có 48 cột bằng gỗ căm xe đen. Cây xuyên được chạy chỉ thẳng tắp nối kết 3 gian nhà chính.
< Nhà trên thoáng đãng vẫn giữ nguyên không gian nội thất cổ kính của thuở tạo lập như bộ trường kỷ, bàn hột xoài, tủ thờ, phản gỗ, hệ thống bao lam… và tuân thủ chặt chẽ cách bày trí gồm nội tự (trong thờ cúng) và ngoại khách (ngoài tiếp khách).
Mối nối các đoạn kèo được liên kết với nhau tài tình trong nét chạm trổ tinh tế và điêu luyện. Hai bên hông và mặt dưới của vì kèo đều được chạm khắc các biểu tượng mai điểu, trúc tước, tùng lộ, bút thư….
< Mối nối các đoạn kèo được liên kết với nhau trong nét chạm trổ điêu luyện. Hai bên hông và mặt dưới của vì kèo được chạm khắc mai điểu, trúc tước, tùng lộ, bút thư… cùng hệ thống dây lá đan xen hài hòa.
Đầu kèo mái hiên được cách điệu 6 đầu rồng hòa lẫn trong nét chạm trổ hoa lá vươn mình đỡ mái hiên. Các bộ phận cấu thành khung nhà đều liên kết chặt chẽ vơi nhau bằng hệ thống mộng chốt. Ngoài ra, trong gian nhà chính còn 11 bức hoành phi, 8 cặp liễn đối bằng chữ Hán và được sơn son thếp vàng. Nội thất được sử dụng và thờ tự bao đời nay đều nguyên vẹn như: bộ trường kỷ, bàn hột xoài, tủ thờ, phản gỗ, hệ thống bao lam.
< Những thiết kế cổ với bao lam, bàn ghế, tủ thờ, khuôn bông, cánh én, cửa, vì kèo… chạm trổ tinh vi, sống động đã thể hiện khối óc sáng tạo, bàn tay tài hoa của đội ngũ nghệ nhân dân gian xưa cũng như dấu ấn điêu khắc, kiến trúc thế kỷ XIX.
Cửa trước của ngôi nhà cũng được trang trí rất công phu, cầu kỳ. Mỗi một khung cửa là một mảng kiến trúc độc lập với những cánh én, khuôn bông đối xứng nhau, trổ trên đấy những dây leo, hoa lá, hồi văn, quyển thư, nho sóc, mai điểu…đan xen nhịp nhàng.
< Nhiều đồ dùng cổ vẫn còn được lưu giữ trong ngôi nhà này như đèn dầu, bình gốm, các bức bình phong...
Tính đến nay ngôi nhà đã truyền qua 3 thế hệ, người đang nắm giữ trọng trách giữ gìn tài sản của tổ tiên là ông Đào Trí Ngọc (nay đã 92 tuổi), mọi việc trông coi hầu như giao cho người con trai là anh Đào Mỹ Trí Nhân lo liệu.
< Mái hiên nhà cổ kính, trang nghiêm không khác gì những phủ quan lại thời Nguyễn ở cố đô Huế hay Gia Đình xưa.
Trao đổi với chúng tôi, anh Nhân cho biết ngôi nhà đã được nhiều đoàn làm phim sử dụng làm bối cảnh trong các cảnh quay lịch sử, cổ xưa. Ngôi nhà tham gia đóng phim đã hơn 10 năm nay, từ các đoàn làm phim của TP.HCM đến các tỉnh ở miền Tây.
Ngoài phim lịch sử thì các phim cho thiếu nhi như cổ tích VN, hài kịch cũng tìm đến. một số bộ phim nổi tiếng đã từng quay cảnh ở đây như: Lục Vân Tiên, Ma Mười (VN hợp tác với Hàn Quốc), Bình Tây Đại Nguyên Soái… Ngoài ra theo anh Nhân, hàng năm ngoài các đoàn làm phim thì ngôi nhà đón tiếp rất nhiều đoàn khách trong và ngoài nước tới tham quan, nghiên cứu kiến trúc cổ của dân tộc.
Theo thống kê của BQL Di tích danh thắng Đồng Nai, xã Phú Hội có 16 ngôi nhà niên đại trên 100 năm, riêng nhà cổ họ Đào nằm trong số 25 ngôi nhà cổ tiêu biểu của tỉnh được Cục di sản văn hóa phối hợp với Cục tài sản văn hóa Nhật Bản tiến hành kiểm kê, đo vẽ kiến trúc. Mới đây, Trung tâm xúc tiến du lịch Đồng Nai đã chọn nhà cổ họ Đào là một điểm đến trong tour du lịch mới đến Nhơn Trạch.
Tổng hợp từ Thanh Niên, Vnexpress
Du lịch, GO!
Monday, November 3, 2014
Lễ hội Tú Tỉ của người Giáy
Lễ hội Tú Tỉ không chỉ là một sự kiện mang tính tín ngưỡng mà nó đã trở thành nét văn hóa đặc sắc trong đời sống tinh thần người dân tộc Giáy, xã San Thàng (Lai Châu).
Không biết từ bao giờ Lễ hội Tú Tỉ đã trở thành nét văn hóa đặc sắc của người dân xã San Thàng. Lễ hội được bắt nguồn từ Lễ cúng Tú Tỉ là truyền thống lâu đời của dân tộc Giáy, theo tiếng Giáy, Tú Tỉ nghĩa là thổ địa, là thần cai quản vùng đất. Với quan niệm “Đất có thổ công, sông có hà bá” tức dân tộc nào sống trên một vùng đất thì phải thờ cúng thổ công ở vùng đất đó.
< Nghi thức cúng thần thổ địa diễn ra tại gốc đa đầu bản.
Lễ hội Tú Tỉ được tổ chức vào 2/2 (âm lịch) hàng năm. Lễ vật dâng lên thần thổ địa tại gốc đa đầu bản gồm: 1 con lợn, 2 con gà khỏe mạnh. Trước ngày lễ chính, các hộ dân trong bản họp, cử 2 hộ gia đình làm chủ trì, lo phần lễ vật cúng. Mỗi gia đình cử một người đàn ông trong gia đình có mặt tại bàn thờ lễ. Phần cúng lễ diễn ra từ 8 – 9h sáng.
Phần Lễ được cúng tại gốc cây to ở đầu bản. Thầy mo sẽ cúng lần thứ nhất để mời vị thần cai quản vùng đất về. Sau khi cúng xong lần một, mọi người sẽ tiến hành mổ lợn và gà tại chỗ, sau đó luộc chín và tiến hành cúng lần hai. Thầy mo thực hiện việc cúng để mời vị thần cai quản vùng đất về nhận lễ vật dâng cúng và để cầu mong cho mùa màng tươi tốt, cầu cho người dân trong bản được mạnh khỏe, vật nuôi sinh sôi nảy nở, không bị dịch bệnh. Sau khi cúng xong thì tất cả bà con trong bản (quy định mỗi nhà một người, phải là con trai và không được mặc áo trắng, hoặc nếu vợ có bầu thì cũng không được vào) cùng ăn tại chính gốc cây.
< Biểu diễn điệu múa dân tộc Giáy trong Lễ hội Tú Tỉ.
Lễ cúng Tú Tỉ đã có từ rất lâu đời của dân tộc Giáy. Mỗi khi Lễ cúng được tổ chức, bà con trong bản ai lấy đều cảm thấy rất vui. Sau phần Lễ là đến phần hội với nhiều trò chơi dân gian, nhiều môn thi độc đáo như: Bắn nỏ, giã bánh dày, kéo co, tó má lẹ, nhảy bao bố, bịt mắt đánh chiêng…
Lễ hội Tu Tỉ được tổ chức hàng năm đã thực sự trở thành ngày hội của đồng bào nhân dân các dân tộc xã San Thàng nhằm bảo tồn và phát huy nét đẹp văn hóa của dân tộc Giáy. Đây sẽ là tiền đề cho việc xây dựng và duy trì bản văn hóa đặc sắc của dân tộc Giáy, đồng thời thúc đẩy phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao ở cơ sở, tạo sự đoàn kết giữa các dân tộc trong xã, tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.
Theo Dân tộc Việt
Du lịch, GO!
Không biết từ bao giờ Lễ hội Tú Tỉ đã trở thành nét văn hóa đặc sắc của người dân xã San Thàng. Lễ hội được bắt nguồn từ Lễ cúng Tú Tỉ là truyền thống lâu đời của dân tộc Giáy, theo tiếng Giáy, Tú Tỉ nghĩa là thổ địa, là thần cai quản vùng đất. Với quan niệm “Đất có thổ công, sông có hà bá” tức dân tộc nào sống trên một vùng đất thì phải thờ cúng thổ công ở vùng đất đó.
< Nghi thức cúng thần thổ địa diễn ra tại gốc đa đầu bản.
Lễ hội Tú Tỉ được tổ chức vào 2/2 (âm lịch) hàng năm. Lễ vật dâng lên thần thổ địa tại gốc đa đầu bản gồm: 1 con lợn, 2 con gà khỏe mạnh. Trước ngày lễ chính, các hộ dân trong bản họp, cử 2 hộ gia đình làm chủ trì, lo phần lễ vật cúng. Mỗi gia đình cử một người đàn ông trong gia đình có mặt tại bàn thờ lễ. Phần cúng lễ diễn ra từ 8 – 9h sáng.
Phần Lễ được cúng tại gốc cây to ở đầu bản. Thầy mo sẽ cúng lần thứ nhất để mời vị thần cai quản vùng đất về. Sau khi cúng xong lần một, mọi người sẽ tiến hành mổ lợn và gà tại chỗ, sau đó luộc chín và tiến hành cúng lần hai. Thầy mo thực hiện việc cúng để mời vị thần cai quản vùng đất về nhận lễ vật dâng cúng và để cầu mong cho mùa màng tươi tốt, cầu cho người dân trong bản được mạnh khỏe, vật nuôi sinh sôi nảy nở, không bị dịch bệnh. Sau khi cúng xong thì tất cả bà con trong bản (quy định mỗi nhà một người, phải là con trai và không được mặc áo trắng, hoặc nếu vợ có bầu thì cũng không được vào) cùng ăn tại chính gốc cây.
< Biểu diễn điệu múa dân tộc Giáy trong Lễ hội Tú Tỉ.
Lễ cúng Tú Tỉ đã có từ rất lâu đời của dân tộc Giáy. Mỗi khi Lễ cúng được tổ chức, bà con trong bản ai lấy đều cảm thấy rất vui. Sau phần Lễ là đến phần hội với nhiều trò chơi dân gian, nhiều môn thi độc đáo như: Bắn nỏ, giã bánh dày, kéo co, tó má lẹ, nhảy bao bố, bịt mắt đánh chiêng…
Lễ hội Tu Tỉ được tổ chức hàng năm đã thực sự trở thành ngày hội của đồng bào nhân dân các dân tộc xã San Thàng nhằm bảo tồn và phát huy nét đẹp văn hóa của dân tộc Giáy. Đây sẽ là tiền đề cho việc xây dựng và duy trì bản văn hóa đặc sắc của dân tộc Giáy, đồng thời thúc đẩy phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao ở cơ sở, tạo sự đoàn kết giữa các dân tộc trong xã, tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.
Theo Dân tộc Việt
Du lịch, GO!
Tri Tôn mùa mắm cá chốt
(TTO) - Khi mùa nước nổi đầu nguồn miệt Tri Tôn, Tịnh Biên (An Giang) vừa dứt, cũng là lúc mùa làm mắm cá chốt bắt đầu.
Một ngày cuối tháng mười, chúng tôi đến thăm địa danh lịch sử cầu Vĩnh Thông (Ba Chúc, Tri Tôn, An Giang). Thấy dưới chân cầu có nhiều người đang ngồi làm cá chốt và cá chốt được thu mua, tập kết về đây với số lượng lớn nên ai cũng háo hức tới xem. Hỏi ra mới biết đây là một cơ sở đang chuẩn bị nguyên liệu làm mắm cá chốt.
Cô Chín - chủ cơ sở mắm tại ấp Núi Nước, thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn - cho biết hằng năm từ tháng chín đến tháng chạp âm lịch là mùa làm mắm cá chốt, cũng là mùa khai thác cá chốt nhiều nhất tại vùng Tri Tôn, Tịnh Biên… của An Giang.
< Cá chốt sống nhiều trong các con sông, kênh, rạch vùng đầu nguồn Tịnh Biên và Tri Tôn.
Sau đó, 6 tháng còn lại trong năm là mùa bán mắm cá chốt. Thời điểm làm mắm nhiều nhất vào khoảng tháng chín và thời điểm bán mắm được nhiều nhất là mùa vía Bà tại Châu Đốc (tháng giêng đến tháng tư âm lịch).
"An Giang ơi, Tri Tôn miền Thốt Nốt
Em mãi còn thơm ngọt đồng, non
An Giang ơi, Tri Tôn mùa mắm chốt
Anh sẽ về tìm lại bữa cơm ngon!"...
< Chuẩn bị nguyên liệu để làm mắm.
Tại địa điểm chuẩn bị nguyên liệu của cơ sở mắm cô Chín có gần 20 người đang ngồi làm cá chốt, cả phụ nữ, trẻ em và đa số là những người già. Những con cá chốt nhỏ bằng ngón tay được làm sạch (cắt đầu, cắt ngạnh, bỏ ruột…) rồi mang đi rửa sạch, sau đó cho vào thùng nhựa và cho muối vào. Sau một thời gian ủ với muối, cá chốt được mang ra rửa sạch rồi cho thính (gạo rang chín xay nhuyễn) vào và tiếp tục ủ. Công đoạn cuối cùng là cho đường vào. Sau 3 tháng ủ với những công đoạn trên sẽ ra thành phẩm mắm cá chốt.
Để làm được mắm cá chốt ngon, ngoài những công đoạn truyền thống trên, người làm còn có một vài bí quyết riêng để mắm cá chốt thêm ngon và có mùi vị đặc biệt hơn. Đặc sản mắm nổi tiếng ở An Giang có nhiều loại như: mắm thái, mắm cá sặc, mắm cá linh, mắm cá trèn, mắm cá lóc… Mỗi loại mắm có mùi vị riêng và cách chế biến thành món ăn cũng khác nhau như nấu lẩu, kho, chưng… Riêng ăn sống thì có lẽ mắm cá chốt là ngon nhất.
Những con mắm cá chốt đỏ au, thơm lừng được trộn thêm với tỏi, ớt hiểm, chanh, đường… kèm đĩa rau sống, chuối chát, khế ăn với cơm trắng (cơm nguội càng ngon) hoặc bún.
Thế là đã có một bữa cơm dân dã ngon tuyệt! Ăn một lần nhớ mãi miền Tây.
Theo Nguyễn Thiên Đăng (Báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Một ngày cuối tháng mười, chúng tôi đến thăm địa danh lịch sử cầu Vĩnh Thông (Ba Chúc, Tri Tôn, An Giang). Thấy dưới chân cầu có nhiều người đang ngồi làm cá chốt và cá chốt được thu mua, tập kết về đây với số lượng lớn nên ai cũng háo hức tới xem. Hỏi ra mới biết đây là một cơ sở đang chuẩn bị nguyên liệu làm mắm cá chốt.
Cô Chín - chủ cơ sở mắm tại ấp Núi Nước, thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn - cho biết hằng năm từ tháng chín đến tháng chạp âm lịch là mùa làm mắm cá chốt, cũng là mùa khai thác cá chốt nhiều nhất tại vùng Tri Tôn, Tịnh Biên… của An Giang.
< Cá chốt sống nhiều trong các con sông, kênh, rạch vùng đầu nguồn Tịnh Biên và Tri Tôn.
Sau đó, 6 tháng còn lại trong năm là mùa bán mắm cá chốt. Thời điểm làm mắm nhiều nhất vào khoảng tháng chín và thời điểm bán mắm được nhiều nhất là mùa vía Bà tại Châu Đốc (tháng giêng đến tháng tư âm lịch).
"An Giang ơi, Tri Tôn miền Thốt Nốt
Em mãi còn thơm ngọt đồng, non
An Giang ơi, Tri Tôn mùa mắm chốt
Anh sẽ về tìm lại bữa cơm ngon!"...
< Chuẩn bị nguyên liệu để làm mắm.
Tại địa điểm chuẩn bị nguyên liệu của cơ sở mắm cô Chín có gần 20 người đang ngồi làm cá chốt, cả phụ nữ, trẻ em và đa số là những người già. Những con cá chốt nhỏ bằng ngón tay được làm sạch (cắt đầu, cắt ngạnh, bỏ ruột…) rồi mang đi rửa sạch, sau đó cho vào thùng nhựa và cho muối vào. Sau một thời gian ủ với muối, cá chốt được mang ra rửa sạch rồi cho thính (gạo rang chín xay nhuyễn) vào và tiếp tục ủ. Công đoạn cuối cùng là cho đường vào. Sau 3 tháng ủ với những công đoạn trên sẽ ra thành phẩm mắm cá chốt.
Để làm được mắm cá chốt ngon, ngoài những công đoạn truyền thống trên, người làm còn có một vài bí quyết riêng để mắm cá chốt thêm ngon và có mùi vị đặc biệt hơn. Đặc sản mắm nổi tiếng ở An Giang có nhiều loại như: mắm thái, mắm cá sặc, mắm cá linh, mắm cá trèn, mắm cá lóc… Mỗi loại mắm có mùi vị riêng và cách chế biến thành món ăn cũng khác nhau như nấu lẩu, kho, chưng… Riêng ăn sống thì có lẽ mắm cá chốt là ngon nhất.
Những con mắm cá chốt đỏ au, thơm lừng được trộn thêm với tỏi, ớt hiểm, chanh, đường… kèm đĩa rau sống, chuối chát, khế ăn với cơm trắng (cơm nguội càng ngon) hoặc bún.
Thế là đã có một bữa cơm dân dã ngon tuyệt! Ăn một lần nhớ mãi miền Tây.
Theo Nguyễn Thiên Đăng (Báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Cụm di tích lịch sử và thắng cảnh Yên Đức
Cụm di tích lịch sử - thắng cảnh Yên Đức nằm về phía Tây Nam xã Yên Đức, phía Đông Nam huyện Đông Triều, phía Tây tỉnh Quảng Ninh. Địa hình nơi đây với những dãy núi đá sừng sững cùng những hang động làm cho ta như lạc vào chốn thiên cung.
Các ngọn núi với những tên gọi đặc trưng của nền văn minh lúa nước Việt Nam như: Núi Canh (cái cày), Ngưu Ngọa (trâu nằm), núi Đống Thóc, núi Thung (cối giã gạo), núi Con Mèo (Ngọa Miêu Sơn), núi Con Chuột, núi Long Mã, núi Lũy, núi Áng Tái, núi Bút, núi Nghè, dãy Phượng Hoàng… Tất cả như hội tụ về đây tạo thành một danh sơn hữu tình, mỗi di tích đều mang một giá trị lịch sử, cách mạng, văn hóa riêng không chỉ có giá trị thắng cảnh tuyệt đẹp mà gắn liền với mỗi di tích là một truyền thuyết dân gian có liên hệ mật thiết với nhau nhưng không thể tách rời:
1. Di tích núi Canh: Do hai ngọn núi của làng Yên Khánh và làng Đồn Sơn tạo thành giống như hình cái cày, tạo thành bức tường thành trấn ải cửa ngõ Đông Bắc của xã. Trong quá trình đấu tranh, dựng và giữ nước đứng trên đỉnh Núi Canh có thể bao quát toàn bộ các khu vực xung quanh, các trạm canh gác trên núi được xây dựng nên núi Canh còn có nghĩa là canh gác.
Từ xa xưa Trần Nhân Tông đã chọn nơi đây để chỉ huy tầm xa chiến trận Bạch Đằng Giang lần thứ 2 (1285). Thời kỳ chống giặc phương Bắc, Yên Đức cũng gắn liền với quá trình dựng và giữ nước của dân tộc. Vào thời kỳ kháng chiến chống Pháp núi Canh đã từng là căn cứ kháng chiến của nghĩa quân Yên Thế, là kho dự trữ lương thực, thực phẩm phục vụ cho kháng chiến.
Cũng từ chiến dịch này các ngõ ngách, hang động trên núi Canh được khơi thông với những tên tuổi sống mãi với non sông, đất nước như: Hang gốc Bòng, hang gốc Gạo, hang Suối Tắm, hang Cửa Đình, hang Tiếp Tế, hang Luồn, hang 73...
Tên mỗi hang đều gắn với những chiến công hiển hách, đã đi vào lịch sử với những chiến tích vĩ đại trong lòng nhân dân Yên Đức.
2. Di tích núi Đống Thóc: Nằm trong quần thể danh sơn Yên Đức, một bên là núi Thung, một bên là núi con Mèo, có hình thù giống như một đống thóc vừa to vừa đầy. Với cư dân nông nghiệp nó là tượng trưng cho sự phồn thịnh, no đủ, sung túc, sự cầu mong phong đăng hòa cốc, sự trù phú của một miền quê Việt Nam.
3. Di tích núi Con Chuột: Nằm cuối cùng về phía Nam trong cụm di tích trên bãi nổi giữa ngã ba sông đá Bạch, sông Kinh Thầy, sông đá Vách, hình thể giống như một con chuột đang rình phá thóc nhưng bị con mèo (núi Con Mèo) ngăn chặn. Trong truyền thuyết núi Con Chuột là biểu tượng của thế lực gian tà trên cả nghĩa rộng, nghĩa hẹp: Phá hoại thành quả lao động, cản trở sự phát triển của con người.
4. Di tích núi Con Mèo: Nằm phía Tây Nam trong quần thể danh sơn Yên Đức (khoảng giữa núi Đống Thóc và núi Con Chuột), còn có tên gọi là Ngọa Miêu Sơn (núi mèo nằm) với hình thể giống như con mèo đang nằm rình chuột, chặn chuột để bảo vệ đống thóc, bảo vệ thành quả lao động của con người.
Thứ hai là biểu tượng chính nghĩa bảo vệ sự an bình thịnh vượng, sự trường tồn của non sông đất nước – Đây cũng là nơi chỉ huy tầm xa chiến trận Bạch Đằng Giang chống Nguyên Mông xâm lược lần thứ 2 (1285).
Di tích đã được liệt vào một trong những danh sơn của vùng Đông Bắc và được coi như cái mốc làm chuẩn từ đây tính ra các địa danh quan trọng liên quan đến địa giới, chiến lược quân sự, kinh tế... của vùng biên cương phía Bắc tổ quốc.
Trong vòm hang có một số bài thơ chữ Nôm, chữ Hán, chữ Quốc ngữ trong đó có bài thơ chữ Nôm nổi tiếng mang dòng chữ “Nhân tôn Hoàng đế ngự đề. Niên hiệu trùng hưng bát niên xuân”. Hiện nay chỉ còn lại duy nhất vòm hang núi, thân đầu con mèo đã bị phá.
5. Di tích núi Thung: Nằm về phía Tây Bắc quần thể di tích. Thung có nghĩa là cối giã gạo. Dưới chân núi là tường đá bao quanh. Xưa kia ở phía Đông của ngọn núi có ngôi chùa Cảnh Huống được trùng tu lớn nhất vào năm 1694, nhưng vào khoảng năm 1980 - 1982 ngôi chùa bị phá hủy hoàn toàn chỉ còn lại bài thơ khắc vào đá và một tấm bia tạc ở khe đá núi Thung, đến năm 1994-1995 chùa được khôi phục lại.
Phía Đông núi còn lại một ngôi tháp ba tầng, phía Nam còn lại một cổng được gọi là cổng Thung, hai tầng xây bằng gạch đỏ, toàn bộ phía Tây Bắc là hào gốc vải nay tạo thành con suối chảy từ cống nghè bao quanh chân núi.
Chùa Một mái nằm ở phía Nam chân núi, có một phiến đá rộng tạo thành một cửa hang (bên cạnh tấm bia lớn chùa Cảnh Huống) nhân dân lập ban thờ, phía ngoài xây tường mở rộng trước cửa (năm 1992), bên trong còn một số pho tượng đặc biệt chú ý là còn duy nhất một cuốn thư sơn son thiếp vàng với bốn chữ Hán nổi: Thị ứng xương kỳ; Bên trái chùa Một mái là đền thờ 8 vị Thủy tổ có công khai dân lập làng được sửa lại năm 1987.
Tiếp theo cạnh nhà thờ là bàn cờ Tiên dưới một tảng đá lớn tạo thành mái che rộng, bên trong khắc một bàn cờ trên phiến đá. Tục truyền có hai vị tiên ông thường xuống đây chơi cờ sau này trở thành chỗ chơi cờ của các cụ trong làng; Bên phải chùa Một mái là một cái giếng nước ngọt, có bài thơ chữ Hán khắc vào vách núi kể về sự kiện năm hạn hán đào cái giếng này, bài thơ khắc niên hiệu: Khải Định tam niên tam nguyệt.
Cạnh giếng nước là Lầu bình thơ được xây dựng vào thế kỷ XIX trên một tảng đá nổi về phía Tây Nam núi, kiến trúc kiểu vòm cuốn bốn cửa thông. Trong có viết hai bài thơ hát nói bằng mực tàu trong cuốn thư trên vách lầu... Di tích núi Thung ngoài ý nghĩa là một danh thắng, tên tuổi gắn với tiềm thức cư dân nông nghiệp mà còn là nơi ghi dấu ấn sự kiện lịch sử văn hóa, lưu giữ nhiều văn bia chữ Hán trải qua quá trình dựng và giữ nước.
Với những giá trị về lịch sử, cách mạng, văn hóa và danh thắng cụm di tích Yên Đức đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử - thắng cảnh cấp Quốc gia.
Trích Cổng Thông tin Điện tử tỉnh Quảng Ninh
Du lịch, GO!
Các ngọn núi với những tên gọi đặc trưng của nền văn minh lúa nước Việt Nam như: Núi Canh (cái cày), Ngưu Ngọa (trâu nằm), núi Đống Thóc, núi Thung (cối giã gạo), núi Con Mèo (Ngọa Miêu Sơn), núi Con Chuột, núi Long Mã, núi Lũy, núi Áng Tái, núi Bút, núi Nghè, dãy Phượng Hoàng… Tất cả như hội tụ về đây tạo thành một danh sơn hữu tình, mỗi di tích đều mang một giá trị lịch sử, cách mạng, văn hóa riêng không chỉ có giá trị thắng cảnh tuyệt đẹp mà gắn liền với mỗi di tích là một truyền thuyết dân gian có liên hệ mật thiết với nhau nhưng không thể tách rời:
1. Di tích núi Canh: Do hai ngọn núi của làng Yên Khánh và làng Đồn Sơn tạo thành giống như hình cái cày, tạo thành bức tường thành trấn ải cửa ngõ Đông Bắc của xã. Trong quá trình đấu tranh, dựng và giữ nước đứng trên đỉnh Núi Canh có thể bao quát toàn bộ các khu vực xung quanh, các trạm canh gác trên núi được xây dựng nên núi Canh còn có nghĩa là canh gác.Từ xa xưa Trần Nhân Tông đã chọn nơi đây để chỉ huy tầm xa chiến trận Bạch Đằng Giang lần thứ 2 (1285). Thời kỳ chống giặc phương Bắc, Yên Đức cũng gắn liền với quá trình dựng và giữ nước của dân tộc. Vào thời kỳ kháng chiến chống Pháp núi Canh đã từng là căn cứ kháng chiến của nghĩa quân Yên Thế, là kho dự trữ lương thực, thực phẩm phục vụ cho kháng chiến.
Cũng từ chiến dịch này các ngõ ngách, hang động trên núi Canh được khơi thông với những tên tuổi sống mãi với non sông, đất nước như: Hang gốc Bòng, hang gốc Gạo, hang Suối Tắm, hang Cửa Đình, hang Tiếp Tế, hang Luồn, hang 73...Tên mỗi hang đều gắn với những chiến công hiển hách, đã đi vào lịch sử với những chiến tích vĩ đại trong lòng nhân dân Yên Đức.
2. Di tích núi Đống Thóc: Nằm trong quần thể danh sơn Yên Đức, một bên là núi Thung, một bên là núi con Mèo, có hình thù giống như một đống thóc vừa to vừa đầy. Với cư dân nông nghiệp nó là tượng trưng cho sự phồn thịnh, no đủ, sung túc, sự cầu mong phong đăng hòa cốc, sự trù phú của một miền quê Việt Nam.
3. Di tích núi Con Chuột: Nằm cuối cùng về phía Nam trong cụm di tích trên bãi nổi giữa ngã ba sông đá Bạch, sông Kinh Thầy, sông đá Vách, hình thể giống như một con chuột đang rình phá thóc nhưng bị con mèo (núi Con Mèo) ngăn chặn. Trong truyền thuyết núi Con Chuột là biểu tượng của thế lực gian tà trên cả nghĩa rộng, nghĩa hẹp: Phá hoại thành quả lao động, cản trở sự phát triển của con người.4. Di tích núi Con Mèo: Nằm phía Tây Nam trong quần thể danh sơn Yên Đức (khoảng giữa núi Đống Thóc và núi Con Chuột), còn có tên gọi là Ngọa Miêu Sơn (núi mèo nằm) với hình thể giống như con mèo đang nằm rình chuột, chặn chuột để bảo vệ đống thóc, bảo vệ thành quả lao động của con người.
Thứ hai là biểu tượng chính nghĩa bảo vệ sự an bình thịnh vượng, sự trường tồn của non sông đất nước – Đây cũng là nơi chỉ huy tầm xa chiến trận Bạch Đằng Giang chống Nguyên Mông xâm lược lần thứ 2 (1285).Di tích đã được liệt vào một trong những danh sơn của vùng Đông Bắc và được coi như cái mốc làm chuẩn từ đây tính ra các địa danh quan trọng liên quan đến địa giới, chiến lược quân sự, kinh tế... của vùng biên cương phía Bắc tổ quốc.
Trong vòm hang có một số bài thơ chữ Nôm, chữ Hán, chữ Quốc ngữ trong đó có bài thơ chữ Nôm nổi tiếng mang dòng chữ “Nhân tôn Hoàng đế ngự đề. Niên hiệu trùng hưng bát niên xuân”. Hiện nay chỉ còn lại duy nhất vòm hang núi, thân đầu con mèo đã bị phá.
5. Di tích núi Thung: Nằm về phía Tây Bắc quần thể di tích. Thung có nghĩa là cối giã gạo. Dưới chân núi là tường đá bao quanh. Xưa kia ở phía Đông của ngọn núi có ngôi chùa Cảnh Huống được trùng tu lớn nhất vào năm 1694, nhưng vào khoảng năm 1980 - 1982 ngôi chùa bị phá hủy hoàn toàn chỉ còn lại bài thơ khắc vào đá và một tấm bia tạc ở khe đá núi Thung, đến năm 1994-1995 chùa được khôi phục lại.Phía Đông núi còn lại một ngôi tháp ba tầng, phía Nam còn lại một cổng được gọi là cổng Thung, hai tầng xây bằng gạch đỏ, toàn bộ phía Tây Bắc là hào gốc vải nay tạo thành con suối chảy từ cống nghè bao quanh chân núi.
Chùa Một mái nằm ở phía Nam chân núi, có một phiến đá rộng tạo thành một cửa hang (bên cạnh tấm bia lớn chùa Cảnh Huống) nhân dân lập ban thờ, phía ngoài xây tường mở rộng trước cửa (năm 1992), bên trong còn một số pho tượng đặc biệt chú ý là còn duy nhất một cuốn thư sơn son thiếp vàng với bốn chữ Hán nổi: Thị ứng xương kỳ; Bên trái chùa Một mái là đền thờ 8 vị Thủy tổ có công khai dân lập làng được sửa lại năm 1987.Tiếp theo cạnh nhà thờ là bàn cờ Tiên dưới một tảng đá lớn tạo thành mái che rộng, bên trong khắc một bàn cờ trên phiến đá. Tục truyền có hai vị tiên ông thường xuống đây chơi cờ sau này trở thành chỗ chơi cờ của các cụ trong làng; Bên phải chùa Một mái là một cái giếng nước ngọt, có bài thơ chữ Hán khắc vào vách núi kể về sự kiện năm hạn hán đào cái giếng này, bài thơ khắc niên hiệu: Khải Định tam niên tam nguyệt.
Cạnh giếng nước là Lầu bình thơ được xây dựng vào thế kỷ XIX trên một tảng đá nổi về phía Tây Nam núi, kiến trúc kiểu vòm cuốn bốn cửa thông. Trong có viết hai bài thơ hát nói bằng mực tàu trong cuốn thư trên vách lầu... Di tích núi Thung ngoài ý nghĩa là một danh thắng, tên tuổi gắn với tiềm thức cư dân nông nghiệp mà còn là nơi ghi dấu ấn sự kiện lịch sử văn hóa, lưu giữ nhiều văn bia chữ Hán trải qua quá trình dựng và giữ nước.
Với những giá trị về lịch sử, cách mạng, văn hóa và danh thắng cụm di tích Yên Đức đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử - thắng cảnh cấp Quốc gia.
Trích Cổng Thông tin Điện tử tỉnh Quảng Ninh
Du lịch, GO!
Nghề dệt thổ cẩm ở làng Len Tô – Gia Lai
(TGL) - Ở làng Len Tô, thị trấn Đắk Pơ, huyện Đắk Pơ (Gia Lai), không khó để du khách bắt gặp cảnh các bà, các chị dân tộc Ba Na đang ngồi bên khung cửu, chăm chú, say mê sáng tạo từng đường nét, hoa văn trên mảnh thổ cẩm.
Dệt thổ cẩm là một nghề đang nhạt nhòa dần trong cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số bởi nguồn tiêu thụ ít trong khi chi phí, công sức và thời gian để đầu tư cho sản phẩm khá lớn. Mặc dù vậy, nhiều chị em phụ nữ làng Len Tô (thị trấn Đắk Pơ, huyện Đắk Pơ) không coi đây là một nghề để kiếm sống, thời gian nông nhàn, họ lại ngồi cả ngày bên khung cửi, chăm chút cho từng họa tiết chỉ để giữ nghề…
Dọc theo con đường làng trải bê tông sạch sẽ là bóng dáng của chiếc khung dệt đặt dưới gốc cây mít, cây me trước sân những ngôi nhà. Một vài phụ nữ đang se sợi, số khác cặm cụi, tỉ mỉ đưa con thoi trên tấm thổ cẩm đang dần thành hình…
Hầu hết phụ nữ ở làng Len Tô đều biết dệt. Họ học lại từ chính người mẹ, người chị và ý thức được đây là nghề truyền thống của đồng bào mình. “Đã là người đồng bào thì phải biết dệt thổ cẩm”-bà Đinh Thị Quái (53 tuổi) quả quyết. Chính vì vậy mà trước mỗi ngôi nhà ở làng Len Tô này không thể không có chiếc khung dệt và mỗi gia đình đều có ít nhất một người biết dệt thổ cẩm. Bà Quái chia sẻ: “Một năm, mình chỉ dệt khoảng 1-2 bộ đồ và chỉ dành để mặc cho những dịp quan trọng trong làng, trong gia đình chứ không bán. Thỉnh thoảng vẫn có người từ làng khác vào tìm mua đồ thổ cẩm, giá của mỗi bộ khá cao từ 1,6 triệu đồng đến 2 triệu đồng nhưng chỉ khi nào có đồ dư thì mọi người ở đây mới bán”. Dulichgo
Không chỉ gìn giữ nghề dệt thổ cẩm, một vài người già trong làng vẫn còn lưu giữ cách làm truyền thống. Họ tự tay trồng bông, kéo sợi, se sợi, nhuộm màu cho sợi và dùng sợi đó để dệt nên bộ đồ thổ cầm đặc biệt cho riêng mình. Mặc dù đã bước sang tuổi 70 nhưng bà Kring vẫn rất khỏe khoắn, minh mẫn. Biết dệt từ năm lên 9 tuổi và được mẹ truyền dạy lại cách quay bông, ép sợi, nhuộm màu nên công việc ấy với bà chẳng hề có chút khó khăn nào. Bà Kring cười móm mém: “Với lũ trẻ bây giờ thì dệt bằng chỉ mua ở ngoài chứ không ai biết tự làm sợi mà dệt cả. Chúng bảo làm thế khó quá, nhiều công đoạn chúng không làm được”.
Chỉ riêng công đoạn nhuộm sợi thôi cũng đã thấy lắm công phu. Người ta lấy vỏ hoặc lá cây trum ngâm xuống nước cho nhũn, chuyển thành màu lam thì cho sợi bông đã quay vào khuấy đều để sợi lên màu, sau đó phơi khô và cuộn lại. Trong làng cũng chỉ mình nhà bà Kring là còn cây trum.
Nhuộm sợi bằng cây trum cho màu đẹp hơn, sợi mềm và đen hơn so với chỉ bán ngoài tiệm. “Chỉ tiếc là đất bây giờ đã trồng mía hết, mỗi năm cũng chỉ trồng được ít bông, đủ để quay sợi dệt được một bộ đồ nữ. Vì vậy, tôi chỉ để dành cho con cháu mặc đi biểu diễn, đi đám, lễ mà thôi”.
Hình ảnh mẹ gỡ sợi, con gái ngồi bên khung chăm chỉ luồn qua lại con thoi, sắp xếp hoa văn làm nên nét yên bình cho ngôi làng Len Tô. Ở làng này, nhiều em gái mặc dù còn nhỏ tuổi nhưng cũng đã biết dệt thành thạo. Những người phụ nữ ở đây coi việc dạy cho con gái biết dệt thổ cẩm là bổn phận của mình.
Theo Phương Linh (Tin Gia Lai)
Du lịch, GO!
Dệt thổ cẩm là một nghề đang nhạt nhòa dần trong cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số bởi nguồn tiêu thụ ít trong khi chi phí, công sức và thời gian để đầu tư cho sản phẩm khá lớn. Mặc dù vậy, nhiều chị em phụ nữ làng Len Tô (thị trấn Đắk Pơ, huyện Đắk Pơ) không coi đây là một nghề để kiếm sống, thời gian nông nhàn, họ lại ngồi cả ngày bên khung cửi, chăm chút cho từng họa tiết chỉ để giữ nghề…
Dọc theo con đường làng trải bê tông sạch sẽ là bóng dáng của chiếc khung dệt đặt dưới gốc cây mít, cây me trước sân những ngôi nhà. Một vài phụ nữ đang se sợi, số khác cặm cụi, tỉ mỉ đưa con thoi trên tấm thổ cẩm đang dần thành hình…
Hầu hết phụ nữ ở làng Len Tô đều biết dệt. Họ học lại từ chính người mẹ, người chị và ý thức được đây là nghề truyền thống của đồng bào mình. “Đã là người đồng bào thì phải biết dệt thổ cẩm”-bà Đinh Thị Quái (53 tuổi) quả quyết. Chính vì vậy mà trước mỗi ngôi nhà ở làng Len Tô này không thể không có chiếc khung dệt và mỗi gia đình đều có ít nhất một người biết dệt thổ cẩm. Bà Quái chia sẻ: “Một năm, mình chỉ dệt khoảng 1-2 bộ đồ và chỉ dành để mặc cho những dịp quan trọng trong làng, trong gia đình chứ không bán. Thỉnh thoảng vẫn có người từ làng khác vào tìm mua đồ thổ cẩm, giá của mỗi bộ khá cao từ 1,6 triệu đồng đến 2 triệu đồng nhưng chỉ khi nào có đồ dư thì mọi người ở đây mới bán”. DulichgoKhông chỉ gìn giữ nghề dệt thổ cẩm, một vài người già trong làng vẫn còn lưu giữ cách làm truyền thống. Họ tự tay trồng bông, kéo sợi, se sợi, nhuộm màu cho sợi và dùng sợi đó để dệt nên bộ đồ thổ cầm đặc biệt cho riêng mình. Mặc dù đã bước sang tuổi 70 nhưng bà Kring vẫn rất khỏe khoắn, minh mẫn. Biết dệt từ năm lên 9 tuổi và được mẹ truyền dạy lại cách quay bông, ép sợi, nhuộm màu nên công việc ấy với bà chẳng hề có chút khó khăn nào. Bà Kring cười móm mém: “Với lũ trẻ bây giờ thì dệt bằng chỉ mua ở ngoài chứ không ai biết tự làm sợi mà dệt cả. Chúng bảo làm thế khó quá, nhiều công đoạn chúng không làm được”.
Chỉ riêng công đoạn nhuộm sợi thôi cũng đã thấy lắm công phu. Người ta lấy vỏ hoặc lá cây trum ngâm xuống nước cho nhũn, chuyển thành màu lam thì cho sợi bông đã quay vào khuấy đều để sợi lên màu, sau đó phơi khô và cuộn lại. Trong làng cũng chỉ mình nhà bà Kring là còn cây trum.
Nhuộm sợi bằng cây trum cho màu đẹp hơn, sợi mềm và đen hơn so với chỉ bán ngoài tiệm. “Chỉ tiếc là đất bây giờ đã trồng mía hết, mỗi năm cũng chỉ trồng được ít bông, đủ để quay sợi dệt được một bộ đồ nữ. Vì vậy, tôi chỉ để dành cho con cháu mặc đi biểu diễn, đi đám, lễ mà thôi”.
Hình ảnh mẹ gỡ sợi, con gái ngồi bên khung chăm chỉ luồn qua lại con thoi, sắp xếp hoa văn làm nên nét yên bình cho ngôi làng Len Tô. Ở làng này, nhiều em gái mặc dù còn nhỏ tuổi nhưng cũng đã biết dệt thành thạo. Những người phụ nữ ở đây coi việc dạy cho con gái biết dệt thổ cẩm là bổn phận của mình.
Theo Phương Linh (Tin Gia Lai)
Du lịch, GO!
Sunday, November 2, 2014
Kinh nghiệm gửi xe máy theo xe khách - tàu hỏa
Xe gắn máy là phương tiện tuyệt vời nhất để bạn tiếp cận mọi phong cảnh, địa điểm đẹp ở các địa danh du lịch. Nó sẽ giúp bạn cơ động, thuận tiện và tiết kiệm hơn nhiều cho chuyến đi của bạn với các chuyến phượt đến những vùng đất xa xôi trong nhiều ngày.
Trong thật tế, bạn vẫn có thể thuê một chiếc xe tại các điểm đến với giá từ 100.000 đến 150.000 đồng/ngày (xăng tự đổ) nhưng chắc chắn rằng bạn khó có cảm giác an tâm vì xe lạ, máy kém dễ hỏng hóc hoặc vỏ trước sau khá mòn, thiếu an toàn khi leo đèo hay chạy đường xấu. Vậy nên cách tốt nhất là mang theo chiếc xe của chính mình với giấy tờ 'chính chủ' và lên đường.
Vậy nhưng trước tiên, Dulichgo khuyên bạn hãy xác định xem 'đem theo xe' có xác đáng trong chuyến hành trình này không cái đã:
- Nếu nơi định đến cách xa nơi bạn ở trên dưới 300km, mình khuyên bạn tự cưỡi ngựa sắt suốt tuyến hành trình cả đi - về do lộ trình ngắn - không đáng cho con xế ra vào hầm xe cùng nhiều công đoạn rườm rà.
- Nếu lộ trình đi trên 600km: đây là lý do chính đáng để chiếc xế của bạn sẽ cùng đồng hành trên chuyến đi. Theo ý mình, bạn nên tính toán gởi xe gắn máy chỉ một phiên (đi hay về). Phiên còn lại, ta nên tự chạy xe đến điểm kế (đi hay về) để khám phá những điều đọc đáo trên chính lộ trình mình đi. Đôi khi những điểm khám phá thêm này còn tuyệt hơn cả chính nơi đã đến đấy! Dĩ nhiên, bạn phải tính thời gian cho chuyến hành trình vì mỗi ngày chỉ nên chạy tầm 300km thôi.
- Còn trường hợp giữa 2 mục trên thì... tùy bạn. Nên nhớ là gởi xe tốn tiền hơn là đổ xăng chạy cùng khoảng đường ấy, lại thiếu tự do khi ta là khách trên xe khách.
Quyết định rồi, bây giờ ta chọn phương cách gởi:
1/ Gửi xe máy theo xe khách
Không phải nhà xe nào cũng đồng ý nhận gửi kèm theo xe máy đâu (ví dụ nhà xe Mai Linh không bao giờ nhận, xe Phương Trang tùy tuyến...v.v). Vì vậy khi có ý định gửi xe đi cùng, bạn nên hỏi kỹ xem họ có nhận chở xe không đã nhé. Hãy hỏi luôn giá cả người và xe, phí tháo dỡ và bọc thùng (thường thì nhà xe chỉ hút xăng, đặt xe vào hầm và không tính thêm tiền).
Số lượng xe gửi kèm theo trong một chuyến chỉ khoảng 2 đến 4 xe - các chỗ còn lại dành cho hàng hóa khác. Vào dịp lễ, giá xe và người sẽ tăng lên đáng kể, riêng vé cho xe bao giờ cũng cao hơn vé cho người.
Xe tay ga bao giờ giá cũng đắt hơn xe số vì chiếm nhiều vị trí hơn (xe này thường đặt đứng trong hầm) và giá trị xe cũng cao hơn hơn. Dù đã đặt trước chỗ cho xe rồi, bạn cũng vẫn cần gọi lại vào ngày đi để xác nhận chắc chắn xe còn chỗ gửi một lần nữa với nhà xe. Nếu không, rất có thể khi bạn ra bến chỉ còn vé người mà không có vé cho xe đấy (do hàng đã lèn chật hầm rồi).
Khi có ý định mang kèm xe theo cùng, hãy nhớ mang đầy đủ giấy tờ đi kèm xe bao gồm đăng ký, bảo hiểm còn thời hạn và giấy phép lái xe. Các giấy tờ này không chỉ quan trọng khi bạn đi đường mà còn đề phòng trường hợp xe vận chuyển cần giấy tờ xác minh với cảnh sát giao thông. Nếu có thể chọn lựa, mình khuyên bạn nên đem theo xe máy tốt nhưng bề ngoài thường thôi: có dằn xóc cọ quẹt cũng không xót ruột.
Trước khi đi, nên nới lỏng ốc kiếng chiếu hậu để khi vào bến xe có thể tự tháo dễ dàng. Nên đến trước giờ khởi hành khoảng một tiếng để họ xếp xe. Nếu vào Bến Xe Miền Đông, bạn phải mua vé cho xe ở cổng bảo vệ. Hãy mua vé chở hàng 6K, không mua vé bốc vác 20k (mọi thứ này nhà xe lo).
Đừng để còn nhiều xăng trong xe vì các nhà xe sẽ tháo hết xăng nhằm bảo đảm an toàn khi đi (nhất là xe số sẽ phải đặt nằm). Vì thế, hãy tính toán để lượng xăng không còn nhiều khi ra đến bến xe. Lúc này thì tự tháo 2 kiếng chiếu hậu mà bạn đã nới ốc từ nhà. Nếu xe còn mới, bạn mang theo ít đồ cũ để bọc lót xung quanh phần xe dễ xước khi đặt nằm ngang như yếm, đèn đầu xe, phần nhựa bên hông… Mũ bảo hiểm nên mang theo và lúc này nên bỏ vào bao xốp cùng với kiếng chiếu hậu rồi đặt cạnh xe và hành lý của bạn trong hầm.
Một số nhà xe (không phải tất cả) có thể sẽ tháo bánh trước xe của bạn để giảm diện tích choán chỗ trong hầm xe. Khi đến nơi, nhà xe sẽ lắp lại cho bạn, ngay cả khi bạn xuống ven đường, không vào bến. Bạn chỉ cần nhắc họ cẩn thận vì mình phải đi xa, hãy nhìn công đoạn tháo và lắp bánh trước để tránh rớt mất bánh xe trái khế khiển đồng hồ công tơ mét - (thông thường thì họ làm rất tốt).
Sau khi nhận xe, bạn chạy đến cây xăng gần nhất để bơm xăng. Hầu như các bến xe đều có cây xăng ngay phía ngoài cổng bến. Bạn cũng có thể chạy thêm vài cây số để tìm chỗ đổ bằng lượng xăng còn lại trong bình xăng con và đáy bình xăng lớn (họ không thể hút sạch đâu). Nếu xuống ven đường quốc lộ, nhà xe thường đậu gần trạm xăng để thuận lợi cho bạn - Trạm xăng thì trên các QL nhiều vô kể.
2/ Gửi xe máy theo tàu hỏa
Không phải chuyến tàu nào cũng nhận chở xe máy theo, đa phần là tàu chở hàng hoặc tàu chậm. Nếu bạn gửi xe máy cùng với chuyến của mình thì tốt, nếu người một chuyến và xe đi một chuyến khác, bạn sẽ phải chờ đợi để lấy xe (cái này thật phiền toái).
Tại các nhà ga đều có khu vực vận chuyển bốc dỡ hàng hóa.
- Nếu gửi xe đến các điểm xa, bạn phải gửi sớm vì xe đến nơi có thể mất 3 – 4 ngày. Mang theo giấy tờ xe để làm thủ tục và rút sạch xăng. Nhân viên nhà ga sẽ viết cho bạn 2 phiếu gửi xe: Một phiếu gắn vào xe và phiếu còn lại đưa cho bạn. Khi nhận xe bạn chỉ cần xuất trình CMND và tờ phiếu này là đủ. Nếu bạn gửi xe và một người khác đi nhận thì chỉ cần thay tên người đó vào phần người nhận. Hãy kẹp mũ bảo hiểm vào xe bạn gởi để khi nhận có ngay mũ sử dụng.
- Nếu đi các điểm gần, xe có thể đi cùng tàu với người. Bạn có thể đưa xe thẳng ra ga để xếp chỗ.
Cước gửi xe gắn máy theo tàu hỏa rẻ hơn gửi theo xe khách. Tuy nhiên, nếu tính các khoảng khác như phí bốc vác, phí đóng thùng xe (thùng sắt, thùng gỗ, thùng giấy... thì không còn rẻ, thậm chí mắc hơn, thủ tục nhận - gửi cũng rườm ra hơn. Ưu điểm là xe máy gửi theo tàu sẽ yên tâm hơn vì được bọc cẩn thận và không phải tháo dỡ khi gửi, không lo trầy trụa gì.
Điền Gia Dũng
Du lịch, GO!
Trong thật tế, bạn vẫn có thể thuê một chiếc xe tại các điểm đến với giá từ 100.000 đến 150.000 đồng/ngày (xăng tự đổ) nhưng chắc chắn rằng bạn khó có cảm giác an tâm vì xe lạ, máy kém dễ hỏng hóc hoặc vỏ trước sau khá mòn, thiếu an toàn khi leo đèo hay chạy đường xấu. Vậy nên cách tốt nhất là mang theo chiếc xe của chính mình với giấy tờ 'chính chủ' và lên đường.
Vậy nhưng trước tiên, Dulichgo khuyên bạn hãy xác định xem 'đem theo xe' có xác đáng trong chuyến hành trình này không cái đã:
- Nếu nơi định đến cách xa nơi bạn ở trên dưới 300km, mình khuyên bạn tự cưỡi ngựa sắt suốt tuyến hành trình cả đi - về do lộ trình ngắn - không đáng cho con xế ra vào hầm xe cùng nhiều công đoạn rườm rà.
- Nếu lộ trình đi trên 600km: đây là lý do chính đáng để chiếc xế của bạn sẽ cùng đồng hành trên chuyến đi. Theo ý mình, bạn nên tính toán gởi xe gắn máy chỉ một phiên (đi hay về). Phiên còn lại, ta nên tự chạy xe đến điểm kế (đi hay về) để khám phá những điều đọc đáo trên chính lộ trình mình đi. Đôi khi những điểm khám phá thêm này còn tuyệt hơn cả chính nơi đã đến đấy! Dĩ nhiên, bạn phải tính thời gian cho chuyến hành trình vì mỗi ngày chỉ nên chạy tầm 300km thôi.
- Còn trường hợp giữa 2 mục trên thì... tùy bạn. Nên nhớ là gởi xe tốn tiền hơn là đổ xăng chạy cùng khoảng đường ấy, lại thiếu tự do khi ta là khách trên xe khách.
Quyết định rồi, bây giờ ta chọn phương cách gởi:
1/ Gửi xe máy theo xe khách
Không phải nhà xe nào cũng đồng ý nhận gửi kèm theo xe máy đâu (ví dụ nhà xe Mai Linh không bao giờ nhận, xe Phương Trang tùy tuyến...v.v). Vì vậy khi có ý định gửi xe đi cùng, bạn nên hỏi kỹ xem họ có nhận chở xe không đã nhé. Hãy hỏi luôn giá cả người và xe, phí tháo dỡ và bọc thùng (thường thì nhà xe chỉ hút xăng, đặt xe vào hầm và không tính thêm tiền).
Số lượng xe gửi kèm theo trong một chuyến chỉ khoảng 2 đến 4 xe - các chỗ còn lại dành cho hàng hóa khác. Vào dịp lễ, giá xe và người sẽ tăng lên đáng kể, riêng vé cho xe bao giờ cũng cao hơn vé cho người.
Xe tay ga bao giờ giá cũng đắt hơn xe số vì chiếm nhiều vị trí hơn (xe này thường đặt đứng trong hầm) và giá trị xe cũng cao hơn hơn. Dù đã đặt trước chỗ cho xe rồi, bạn cũng vẫn cần gọi lại vào ngày đi để xác nhận chắc chắn xe còn chỗ gửi một lần nữa với nhà xe. Nếu không, rất có thể khi bạn ra bến chỉ còn vé người mà không có vé cho xe đấy (do hàng đã lèn chật hầm rồi).
Khi có ý định mang kèm xe theo cùng, hãy nhớ mang đầy đủ giấy tờ đi kèm xe bao gồm đăng ký, bảo hiểm còn thời hạn và giấy phép lái xe. Các giấy tờ này không chỉ quan trọng khi bạn đi đường mà còn đề phòng trường hợp xe vận chuyển cần giấy tờ xác minh với cảnh sát giao thông. Nếu có thể chọn lựa, mình khuyên bạn nên đem theo xe máy tốt nhưng bề ngoài thường thôi: có dằn xóc cọ quẹt cũng không xót ruột.
Trước khi đi, nên nới lỏng ốc kiếng chiếu hậu để khi vào bến xe có thể tự tháo dễ dàng. Nên đến trước giờ khởi hành khoảng một tiếng để họ xếp xe. Nếu vào Bến Xe Miền Đông, bạn phải mua vé cho xe ở cổng bảo vệ. Hãy mua vé chở hàng 6K, không mua vé bốc vác 20k (mọi thứ này nhà xe lo).
Đừng để còn nhiều xăng trong xe vì các nhà xe sẽ tháo hết xăng nhằm bảo đảm an toàn khi đi (nhất là xe số sẽ phải đặt nằm). Vì thế, hãy tính toán để lượng xăng không còn nhiều khi ra đến bến xe. Lúc này thì tự tháo 2 kiếng chiếu hậu mà bạn đã nới ốc từ nhà. Nếu xe còn mới, bạn mang theo ít đồ cũ để bọc lót xung quanh phần xe dễ xước khi đặt nằm ngang như yếm, đèn đầu xe, phần nhựa bên hông… Mũ bảo hiểm nên mang theo và lúc này nên bỏ vào bao xốp cùng với kiếng chiếu hậu rồi đặt cạnh xe và hành lý của bạn trong hầm.
Một số nhà xe (không phải tất cả) có thể sẽ tháo bánh trước xe của bạn để giảm diện tích choán chỗ trong hầm xe. Khi đến nơi, nhà xe sẽ lắp lại cho bạn, ngay cả khi bạn xuống ven đường, không vào bến. Bạn chỉ cần nhắc họ cẩn thận vì mình phải đi xa, hãy nhìn công đoạn tháo và lắp bánh trước để tránh rớt mất bánh xe trái khế khiển đồng hồ công tơ mét - (thông thường thì họ làm rất tốt).
Sau khi nhận xe, bạn chạy đến cây xăng gần nhất để bơm xăng. Hầu như các bến xe đều có cây xăng ngay phía ngoài cổng bến. Bạn cũng có thể chạy thêm vài cây số để tìm chỗ đổ bằng lượng xăng còn lại trong bình xăng con và đáy bình xăng lớn (họ không thể hút sạch đâu). Nếu xuống ven đường quốc lộ, nhà xe thường đậu gần trạm xăng để thuận lợi cho bạn - Trạm xăng thì trên các QL nhiều vô kể.
2/ Gửi xe máy theo tàu hỏa
Không phải chuyến tàu nào cũng nhận chở xe máy theo, đa phần là tàu chở hàng hoặc tàu chậm. Nếu bạn gửi xe máy cùng với chuyến của mình thì tốt, nếu người một chuyến và xe đi một chuyến khác, bạn sẽ phải chờ đợi để lấy xe (cái này thật phiền toái).
Tại các nhà ga đều có khu vực vận chuyển bốc dỡ hàng hóa.
- Nếu gửi xe đến các điểm xa, bạn phải gửi sớm vì xe đến nơi có thể mất 3 – 4 ngày. Mang theo giấy tờ xe để làm thủ tục và rút sạch xăng. Nhân viên nhà ga sẽ viết cho bạn 2 phiếu gửi xe: Một phiếu gắn vào xe và phiếu còn lại đưa cho bạn. Khi nhận xe bạn chỉ cần xuất trình CMND và tờ phiếu này là đủ. Nếu bạn gửi xe và một người khác đi nhận thì chỉ cần thay tên người đó vào phần người nhận. Hãy kẹp mũ bảo hiểm vào xe bạn gởi để khi nhận có ngay mũ sử dụng.
- Nếu đi các điểm gần, xe có thể đi cùng tàu với người. Bạn có thể đưa xe thẳng ra ga để xếp chỗ.Cước gửi xe gắn máy theo tàu hỏa rẻ hơn gửi theo xe khách. Tuy nhiên, nếu tính các khoảng khác như phí bốc vác, phí đóng thùng xe (thùng sắt, thùng gỗ, thùng giấy... thì không còn rẻ, thậm chí mắc hơn, thủ tục nhận - gửi cũng rườm ra hơn. Ưu điểm là xe máy gửi theo tàu sẽ yên tâm hơn vì được bọc cẩn thận và không phải tháo dỡ khi gửi, không lo trầy trụa gì.
Điền Gia Dũng
Du lịch, GO!
Subscribe to:
Posts (Atom)
























.jpg)

.jpg)






