Showing posts with label Phong tục - Văn hóa VN. Show all posts
Showing posts with label Phong tục - Văn hóa VN. Show all posts

Tuesday, January 20, 2015

Ghè trong đời sống đồng bào DTTS

(KTO) - Ghè là tiếng phổ thông dùng để gọi một loại vật dụng của đồng bào các DTTS Kon Tum dùng để ủ/đựng rượu cần, là vật dụng thiết yếu trong đời sống vật chất cũng như tinh thần của cư dân nơi đây.

Cư dân các dân tộc thiểu số Kon Tum từ khi sinh ra, trưởng thành và đến khi đi về với tổ tiên đều gắn liền với chiếc ghè. Khi còn sống ghè gắn bó mật thiết với con người qua các sinh hoạt lễ hội, lễ nghi, vật cúng tế thần linh, là tài sản, vật trao đổi, vật gia truyền trong gia đình, là tài sản quý, dùng làm của hồi môn theo con trai con gái đi bắt vợ bắt chồng. Khi chủ nhân chết đi, ghè cũng được “chia của” theo người về với thế giới bên kia.

Người Ja Rai và người Jẻ Triêng gọi ghè là  ché; Xê Đăng gọi là  xoan hoặc vọ; Ba Na gọi là tơ keng… Ghè có nhiều loại và mỗi chiếc lại có tên gọi riêng như một thành viên trong cộng đồng, trong gia đình. Cách gọi tên của ghè có thể theo màu sắc, hoa văn, kiểu dáng, hay những con vật được trang trí trên thân ghè. Những cái ghè quý có khi lại được gọi tên theo chủ, hay tên một dòng họ, một sự kiện liên quan. Người Jẻ Triêng có các loại ché (ghè) Đăng lót, ché Đăm, ché Krơn, ché Nỉ, ché Htang, ché Kliêng, Cần chai, Plăng…; Người Xê Đăng có ghè Mo ngang, ghè Si bay két, Rum leng, Lu vọ, Tô neng, Ka đăn, Cu đông, ghè Dơn,ghè Khuốc…; Người Ja Rai có ché Toăng, ché Túc, ché Lem, ché Lúp, ché Le, ché Tăn rông, Tớp rông, Ta căn, Tơ po…; người Ba Na có ghè Sa Tôk, Htốc Bai, Htốc ác, ghè Grăn, ghè Tbôm, Kbụ, ghè Tơ ngong, Xron, Klăng, Klor, Tbắt…

Mỗi chiếc ghè có trị giá khác nhau (ở đây chỉ nói những chiếc ghè cổ, ghè cũ của đồng bào). Trị giá đó ngoài giá trị vật chất còn giá trị tinh thần. Và chính giá trị tinh thần mới đẩy trị giá của chiếc ghè lên “ngất ngưởng”. Những chiếc ghè quý thường có lai lịch, “lý lịch” cụ thể như một con người và những câu chuyện riêng gắn bó với nó. Trong Bảo tàng Kon Tum có nhiều chiếc ghè mà trước đây chủ nhân của nó đã phải mua với giá rất cao. Ví dụ: ché Toăng của nhà ông A Huê làng Răk, xã Ya Xiêr (Sa Thầy) xưa kia mua giá 30 con trâu; ché Túc của nhà ông A Nhứt làng Răk, xã Ya Xiêr (Sa Thầy) giá 20 con bò; ché Tớp Rông nhà A Châu làng Lung, xã Ya Xiêr (Sa Thầy) cách đây 4 đời đã mua giá 30 con bò…

Chiếc ghè không phải do cư dân dân tộc thiểu số tại Kon Tum làm ra mà là sản phẩm của người Kinh, người Chăm... Theo một số chuyên gia về đồ gốm, trong kho của Bảo tàng Kon Tum thậm chí còn có cả những chiếc ghè của Thái Lan, Miến Điện, Myanma, Lào, Campuchia. Chúng ta đã biết, trong số đồng bào DTTS KonTum, người Jẻ Triêng, người Ba Na Rơ Ngao có biết làm gốm song với kỹ thuật thô sơ, đơn giản, chưa dùng bàn xoay. Gốm được nung ngoài trời ở nhiệt độ thấp, chưa thành sành, sứ và không phủ men. Sản phẩm chỉ là những vật dụng đơn giản như nồi, tô, bát, những chiếc ghè đất.

Trước đây không có đường sá, giao thông đi lại khó khăn, cõng một chiếc ghè phải luồn rừng, trèo đèo lội suối ròng rã hàng tháng trời, vượt qua bao hiểm nguy bệnh tật, thú dữ dọc đường mới đưa được chiếc ghè lên Kon Tum. Do đó giá trị của ghè không chỉ là giá trị vật chất, mà còn là giá trị tinh thần. Nó quý vì chủ yếu do sự khan hiếm. Bên cạnh đó đồng bào lại quan niệm có những chiếc ghè còn là nơi trú ngụ của thần linh, thần bản mệnh gia chủ, là hiện thân của thế giới tâm linh. Đó là những chiếc ghè thiêng, mà người chủ qua giấc mơ thấy thần báo mộng cần phải mua hoặc phải nhượng bán chiếc ghè đó cho người khác. Xin kể một câu chuyện giải thích về giá trị của một chiếc ghè:

Năm 1998, các cán bộ nghiệp vụ Bảo tàng tỉnh Kon Tum có sưu tầm chiếc ghè Châng (ché Châng) của ông A Hê ở làng Răk, xã Ya Xiêr, huyện Sa Thầy. Ông A Hê cho biết đó là chiếc ghè của vợ ông được thừa kế. Ghè đó đã có mặt tại gia đình vợ ông từ cách đó 5 đời. Ông cố nội của vợ ông A Hê chết từ lúc trẻ, bà cố nội ở vậy nuôi con. Dulichgo

Một đêm bà nằm mơ thấy chồng về báo cho biết hồn của ông nằm trong chiếc ghè Châng ở vùng Ya Ly. Bà tìm đến và mua bằng được chiếc ghè với giá 30 con bò. Từ đó chiếc ghè được coi như một thành viên trong gia đình. Mỗi năm nó được cúng 1 con bò (làm 1 con bò, mời làng đến uống rượu). Mỗi khi trong nhà chủ có người chết, ghè bị  bẻ đi một tai, khi hết tai, ghè bị bẻ đi một góc miệng để thể hiện sự đau đớn. Cứ như vậy qua 5 đời, miệng ghè không còn chỗ để bẻ nữa.

Tương tự như vậy còn biết  bao những câu chuyện tâm linh gắn với giá  trị những chiếc ghè. Trong quá trình đi sưu tầm tại cơ sở cán bộ Bảo tàng tỉnh bắt gặp những chiếc ghè cổ rất đẹp, rất có giá trị nhưng lại bị mẻ miệng, mất tai. Lúc đầu tưởng do quá trình sử dụng quá lâu ghè bị như vậy, nhưng khi hỏi kỹ mới biết đó là do ghè bị bẻ miệng, đập tai khi chủ của nó qua đời.

Trong làng, những gia đình khá giả thường là chủ sở hữu của những chiếc ghè cổ, ghè quý được cất giữ cẩn thận như vật gia bảo truyền từ đời này sang đời khác của gia đình, dòng họ. Cùng với trâu, bò, cồng chiêng, đồ trang sức, ghè là thước đo sự giàu nghèo của mỗi gia đình trong cộng đồng. Ghè còn là của để dành, làm sính lễ trong cưới hỏi, của hồi môn, vật đền bù khi xử phạt, thanh toán nợ nần, làm quà biếu tặng bạn bè, người thân, sui gia… Ghè không thể thiếu trong mọi lễ hội, lễ nghi, từ cộng đồng đến gia đình, từ lễ mừng nhà rông mới, mừng lúa mới, lễ sửa máng nước, cầu mùa màng, đến lễ tang, lễ pơ thi, các lễ nghi trong vòng đời người, lễ nghi nông nghiệp, vòng đời cây trồng….

Ghè có nhiều kiểu dáng cao thấp, to nhỏ; với nhiều màu men như: đen, vàng, xanh…, trong đó màu men da lươn là phổ biến nhất. Thân ghè được trang trí nhiều họa tiết hoa văn khác nhau, thường là hình hoa lá cỏ cây, hoa văn hình học; hoa văn rồng, phượng, chim, thú, hình người…. Hoa văn có khi khắc chìm, có khi đắp nổi.

Vai ghè thường có 4 - 6 - 8 -10 - 12 tai. Theo đồng bào, ghè càng có nhiều tai càng quý và ghè có tai  nằm ngang quý hơn tai  nằm dọc.  Các tai  trên vai ghè thường để trơn, nhưng cũng có khi được biến tấu thành những đốt trúc, đốt mai, vặn thừng, có khi các tai đó lại biến thể thành các con vật như dơi, chuột, ếch, cóc, thạch sùng, thằn lằn…

Chiếc ghè đã góp phần làm cho đời sống tinh thần của cư dân các dân tộc thiểu số Kon Tum thêm phong phú và đậm đà bản sắc. Trong các lễ hội của làng hay các lễ nghi trong gia đình, những chiếc ghè có giá trị sẽ được đưa ra đựng rượu cúng Yàng, hoặc để đựng/ mời rượu khách, và để “khoe” với mọi người về một món đồ quý trong gia đình. Theo đồng bào những chiếc ghè cũ dùng ủ/đựng rượu thường ngon hơn những chiếc ghè mới mà họ gọi là “ghè chợ”.

Hiện tại Bảo tàng tàng tỉnh Kon Tum đang lưu giữ, bảo quản trên 300 chiếc ghè của các dân tộc thiểu số trong tỉnh. Sưu tập ghè này được các nhà chuyên môn, các khách tham quan đánh giá thuộc loại khá trong số các Bảo tàng tại khu vực.

Theo Vũ Thị Mai (Báo Kontum)
Du lịch, GO!

Sunday, January 11, 2015

Bãi 'tắm tiên' dưới chân đèo Khau Phạ

Từ quốc lộ 32 hướng về huyện Mù Cang Chải, Tú Lệ là xã sát sườn đèo Khau Phạ, trực thuộc huyện Văn Chấn của tỉnh Yên Bái. Trước khi vượt "Sừng trời" (đèo Khau Phạ): Tú Lệ hiện ra với hương thơm ngào ngạt của nếp và lúa khiến nhiều du khách phải dừng chân ghé lại để thưởng thức chút xôi nếp giản dị mà nức tiếng cả nước của đồng bào dân tộc Thái nơi đây.

Bản làng nhỏ nằm dưới chân đèo Khau Phạ này vốn rất nổi tiếng với đặc sản gạo nếp Tú Lệ nhưng ít người biết rằng, chỉ cách đường quốc lộ vài bước chân còn có một bãi tắm tiên của người Thái, nơi mà chính bạn có thể hòa mình vào làn nước suối khoáng nóng và chiêm ngưỡng cảnh sắc yên bình của một vùng quê trù phú.

< Được thiên nhiên đặc biệt ưu đãi, Tú Lệ còn sở hữu dòng suối nước nóng quanh năm đã nức tiếng gần xa.

Suối nuớc nóng Tú Lệ cách trung tâm thị trấn chừng hơn một cây số. Gọi là suối nhưng thực chất đây là dòng nước nóng chừng 45 độ C chảy ra từ lòng đất ngay bên bờ suối. Người dân ở đây từ nhiều chục năm trước đã quây lại tạo thành bể tắm nuớc khoáng nóng và một bể tắm ấm tiện cho sở thích của mỗi người.

< Nhiều du khách đi qua đều không quên dừng lại, ghé thăm để có thể hòa mình vào dòng suối nóng bản Chao nằm cách đường quốc lộ chỉ vài bước chân.

So với tục tắm tiên ở nhiều vùng Tây Bắc thì ở Tú Lệ vẫn còn giữ được nhiều nét nguyên sơ, thuần khiết và hòa hợp giữa cộng đồng người bản địa lẫn du khách. Dulichgo

Có thể ngay từ buổi sáng sớm nhưng thường thì vào lúc chiều xuống, người dân Tú Lệ không phân biệt già trẻ, gái trai... rủ nhau đi tắm suối.

< Trước đây, khi du lịch còn chưa phát triển: hình ảnh Tú Lệ còn được mặc định bởi những cô gái Thái tắm trần bên suối, một vẻ đẹp dung dị mà không dung tục khiến du khách xao xuyến.

Tuy nhiên, phần đông là thiếu nữ Thái có nước da trắng ngần, mái tóc đen huyền, má đỏ hây hây. Chuyện thiếu nữ tắm trần ở Tú Lệ ngày nay dù hiếm gặp nhưng vẫn còn tồn tại... và nếu bạn may mắn trong một ngày vắng sẽ bắt gặp cảnh thần tiên.
< Cứ khoảng 2h chiều (mùa hè thì muộn hơn), những phụ nữ Thái đi làm về hoặc từ nhà ra tập trung ở ven suối để ngâm mình tắm tiên.

< Do nước khoáng nóng Tú Lệ từ núi chảy ra ngay cạnh dòng suối nên người dân ở đây đã xây một bể nhỏ xung quanh mạch nước để biến nơi đây thành bể nước khoáng nóng tự nhiên. Trong bể, các bà, các chị và các em nhỏ lưng trần tắm tiên vui như hội.

< Nếu có khách lạ, những cô gái trẻ khá e dè (dĩ nhiên rồi!), nhiều cô vẫn quấn yếm trước ngực khi tắm. Bằng không, họ sẽ vô tư lắm đấy.

Ở một nơi nào khác sẽ là chuyện lạ nhưng tại đây: sẽ không có gì là khác người khi trong một buổi chiều tàn thưa người, bạn bắt gặp hình ảnh thiếu nữ Thái từ từ trút bỏ xiêm y, nhẹ bước gót ngà xuống dòng nước nóng ngâm mình, để làn nước che ngang bộ ngực căng tròn.

< Bàn chuyện giữa tiếng cười tíu tít, riêng những phụ nữ lớn tuổi hơn thì chỉ mặc mỗi váy xuống tắm.

Giữa dòng nước bốc hơi nghi ngút, bốn bề thiên nhiên tươi đẹp, thấp thoáng những tấm lưng trần gợi cảm cùng tiếng cười đùa khúc khích. Lúc này, ta lập tức có cảm nghĩ rằng những cô gái từ xa trông như những tiên nữ giáng trần mờ huyền ảo ảo giữa thiên nhiên.

< Không chỉ có phụ nữ, trẻ em: nhiều người đàn ông lớn tuổi và thanh niên cũng ra tắm chung trong bể cùng mọi người.

< Đông nhất vẫn là trẻ em vì hầu hết giờ đó các em đi học về, hơn nữa mực nước ở trong bể đủ cho các em nô đùa nhưng không quá sâu để gây nguy hiểm.

Tắm tiên được coi là cách thư giãn của những cô gái chàng trai người dân tộc Thái sau một ngày làm đồng vất vả. Cũng có ý kiến cho rằng, phải chăng nhờ vậy mà con gái Thái có làn da trắng hồng đến thế. Ở đây trai gái có thể tắm chung nhưng vẫn giữ khoảng cách. Các cô gái kỳ cọ cho nhau bằng những viên đá cuội tròn, trong làn nước nóng khói bay lãng đãng chợt vang lên tiếng cười giòn tan. Dulichgo

< Mặc dù ngay cạnh đường quốc lộ, bên cạnh sự phát triển và đô thị hóa nhưng người dân nơi đây vẫn giữ được bản sắc riêng của người vùng cao.

Lữ khách tới đây có thể ngâm mình cùng tắm, vọc nước và trò chuyện giao lưu với người bản xứ. Trong thật tế, người dân nơi đây cũng không quá e ngại nếu bạn muốn xin chụp hình làm kỷ niệm. Sẽ khó tránh khỏi sự hồi hộp và rung động dù là tay máy nghiệp dư hay chuyên nghiệp trước khung cảnh quyến rũ của miền sơn cước. Tuy vậy, cũng đừng quá lạm dụng điều này khiến ảnh hưởng đến những giây phút thần tiên nơi đây.

< Tắm tiên được coi là cách thư giãn của những cô gái chàng trai người dân tộc Thái sau một ngày làm đồng vất vả. Hiện nay, người dân vùng lân cận nghe tiếng cũng đến đây tắm nên bể đã trở nên chật chội. Nhiều người mong muốn chiếc bể sẽ được cơi nới rộng hơn hoặc xây thêm một bể nữa để mọi người có một không gian tắm thoải mái hơn sau mỗi buổi làm việc. Qua đó tiếp tục gìn giữ và phát huy một nét văn hóa dân tộc đang dần bị mai một.

Tú Lệ rất thích hợp cho một chuyến đi từ 2 đến 3 ngày từ Hà Nội. Những ngày lạnh là thời điểm suối nước nóng tập trung đông người tắm nhất. Do đó, vào thời gian này bạn có thể kết hợp đi thăm ruộng lúa Tú Lệ với tắm suối nước nóng ở đây.

Du lịch, GO! tổng hợp, ảnh Infonet

Sơn nữ tắm tiên giữa đại ngàn: quá khứ đã xa?
Tục tắm tiên của người vùng cao
Kỳ thú Tú Lệ: Thăm ruộng lúa và tắm tiên.
Tục tắm tiên xưa và nay
Huyền thoại tắm tiên... (Phần 1)

Độc đáo Ting Pêng

(BKT) - Ting Pêng có thể được tổ chức bất cứ khi thời điểm nào trong năm, khi có điều kiện, kéo dài từ 2- 4 ngày… 
Kết quả khảo sát điền dã cho thấy, hiện nay chỉ còn vài làng ở xã Đăk Ui và xã Ngọc Réo (huyện Đăk Hà) còn lưu giữ được lễ thức Ting Pêng độc đáo này...

Ting Pêng là lễ thức tín ngưỡng của người Xê Đăng Tơdră. Theo tiếng Tơdră thì Ting là cúng, tế, Pêng là bắn. Tên gọi này đã thể hiện được 2 đặc thù cơ bản của hoạt động này: cúng thần linh và bắn gia súc. Lễ thức này xuất phát từ quan niệm trả nợ thần linh - một khi “có của ăn, của để” là lúc phải thực hiện lời hứa trước thần linh. Ting Pêng có thể được tổ chức bất cứ khi thời điểm nào trong năm, khi có điều kiện, kéo dài từ 2- 4 ngày… Kết quả khảo sát điền dã cho thấy, hiện nay chỉ còn vài làng ở xã Đăk Ui và xã Ngọc Réo (huyện Đăk Hà) còn lưu giữ được lễ thức Ting Pêng độc đáo này.

Việc chuẩn bị cho Ting Pêng cần thời gian dài, có thể 1 tháng, có khi nhiều hơn. Theo người Tơdră, vật hiến sinh có thể là trâu, dê, heo… chủ yếu do các gia đình tự đảm nhiệm, việc chung của làng không nhiều. Với điều kiện kinh tế gia chủ khá giả và con cái thành đạt thì vật hiến tế thường là trâu; riêng làng chuẩn bị 1 con trâu lớn, kèm 2 con heo lớn để cúng thần nhà Rông (Yang T’chuông). Tất cả các con vật đều phải là con đực và mạnh khoẻ. Dulichgo

Các gia đình thường tiến hành chuẩn bị vật hiến sinh trước đó rất lâu, bởi hầu hết là vật nuôi trong nhà. Nhiệm vụ của phụ nữ là lo củi đốt, nồi niêu, ống lồ ô để nướng thịt, rau rừng để làm món ăn; công việc quan trọng của nam giới là lo chuẩn bị dao, đặc biệt là nỏ và tên, vì đây là công cụ chủ đạo có trong lễ Ting Pêng. Ngoài ra, việc bện dây bră (dây buộc súc vật) là việc chung của nam và nữ.

Về việc làng, tại nhà Rông, dàn trống thiêng (ieng hgâr) được huy động để đánh suốt đêm trước ngày lễ chính. Dân làng được huy động làm hàng rào, rào kín khu vực cư trú trong thời gian 2 ngày, không cho người lạ vào làng trong thời điểm diễn ra lễ hội– đây là một trong những tập tục nhằm giữ gìn sự trong sạch đối với vật hiến tế, cảnh quan, môi trường và đặc biệt là con người khỏi những sự chung đụng, va chạm trong, ngoài làng, quan hệ nam nữ khiến thần linh nổi giận… Vật hiến sinh được giữ gìn cẩn thận, tránh không cho người ngoài sờ tay vào, người lạ nhìn vào; người Tơdră thường chọn một bãi đất cao ráo, vắng vẻ để làm nơi tổ chức Ting Pêng.

Vào phần lễ, thường 8h sáng, vật hiến sinh được đưa vào bãi bắn. Trâu làng được bắn trước, tiếp theo là trâu của gia chủ tổ chức Ting Pêng và sau nữa là dê của các gia đình trong làng. Sau khi cột trâu, dê vào dây, mỗi gia đình đều có tên, nỏ riêng của gia đình mình. Ông chủ gia đình bắt đầu lắp tên bắn thử, sau đó là bắn thật. Đây cũng là một nghi thức quan trọng, để không phật lòng Yàng mà mang tai hoạ cho gia đình mình, người bắn không được bắn trật hay làm gãy tên, gãy nỏ. Mỗi con vật chỉ bắn 1 phát duy nhất. Người ta lấy máu của vật hiến sinh cúng Yàng.

Vào lễ cúng, ngoài bãi, già làng (đối với làng) và các ông chủ gia đình mang tất cả các ống lồ ô thịt, lòng con vật đã nấu chín ra bãi bắn, nơi cột keang đã treo sẵn ống lô ô máu và đầu con vật. Các món có nước được đổ vào các cây pe, các món thịt nướng cột chặt vào khung keang, gan đặt lên mảnh lá trên cao. Già làng và các ông chủ lễ dùng 2 bàn tay huơ lên các thức ăn, rồi cầm lấy ống lồ ô máu bôi lên khắp nơi, gọi tên các Yàng, tổ tiên (yang pôya) và khấn (tạm dịch):

Nay làm lễ bắn cúng nhà Rông, nỏ chúng tôi bắn con trâu, con dê, con heo, dâng cúng con trâu, ống nước của cả dân làng chúng tôi. Chuyện gì không phải, không đúng của dân làng xin được bỏ qua. Xin thỉnh các Yàng, tổ tiên, đây là gan chúng tôi cúng, mong được làm tốt cái rẫy, tốt cái nương, no cơm ấm áo. Sau đó, mọi người tập trung tại cột keang của làng rồi nhà nào về nhà ấy tiến hành lễ cúng y như thế.

Sau phần nghi lễ là phần hội. Đầu trâu, dê cúng sống được tháo xuống, luộc chín. Dân làng trở về nhà cõng rượu ghè tới. Rượu không được dùng để cúng nên dân làng chuẩn bị không nhiều. Số rượu này được uống với thịt đầu trâu, dê đã luộc chín.

Chiều đến, khoảng 17h, hoạt động thú vị nhất trong phần hội là pêng hlă (bắn lá): Làng đã chuẩn bị 2 cây lồ ô còn nguyên lá cắm xuống đất, bắt chéo nhau ở phần nóc tạo hình thù cái cổng làng (kno) ở cuối bãi bắn. Dulichgo

Bước đầu, đàn ông, thanh niên tập bắn thử ở ngay cột nêu (loong keang) của riêng mình. Họ bắn vào các ống thịt được buộc ngang trên cột nêu khoảng vài ba phát tên, sau khi đã lầm rầm khấn vái. Nếu 3 phát trúng được 2 thì tức là yàng cho phép bắn thật, nếu trật 2 hoặc cả 3 phát, người bắn tự động bỏ cuộc (vì không có ai giám sát bắn thử cả).

Tiếp đến là bắn thật- đây là phần chủ yếu của hoạt động này. Từng người một, trước sự cổ vũ của dân làng, thay nhau đúng vào vị trí định sẵn. Mũi tên được chẻ làm tư để vướng vào lá nhiều hơn. Mục tiêu bắn là lá trên một cây gạo có lá nhỏ như lá xoan, nhưng dày hơn. Ai bắn rụng được nhiều lá hơn được dân làng hoan hô và được già làng thưởng những miếng thịt từ ống lồ ô đã cúng Yàng. Trong quan niệm của dân làng, người bắn rụng nhiều lá là người được các Yàng chiếu cố sẽ nhiều may mắn trong thời gian tới.

Bắn lá là hoạt động vui nhộn nhất trong lễ Ting Pêng; và đây cũng là hoạt động cuối cùng trong lễ Ting Pêng trước khi nhường chỗ cho phần hội tiếp tục diễn ra tại nhà Rông cho đến khi “sức tàn, rượu nhạt”…

Theo Khánh Lễ - Nguyễn Đang (Báo Kontum)
Du lịch, GO!

Friday, January 2, 2015

Khách nhà dài

(BAVN) - Đến Tp. Buôn Mê Thuột du khách được thưởng thức một loại hình du lịch mới lạ của dân tộc Ê Đê ở buôn Kô Sia (phường Tân Lập) là thăm nhà dài và thưởng thức những nét văn hóa đặc sắc được người dân nơi đây bảo tồn qua hàng nghìn năm.

Trước đây buôn Kô Sia là một buôn nhỏ của người Ê Đê với những nếp nhà dài êm đềm và là một trong bốn buôn cổ hình thành nên Tp. Buôn Mê Thuột ngày nay. Khi thành phố được mở rộng, buôn Kô Sia nay thuộc phường Tân Lập đã bị đô thị hóa và mất dần những nét văn hóa của người Ê Đê. Trước thực trạng đó, cách đây hơn 10 năm, già làng Ma Len tập hợp những người cao tuổi trong buôn lập nên đội cồng chiêng buôn Kô Sia nhằm truyền lại cho thế hệ trẻ ở buôn cách thức đánh cồng chiêng - nét văn hóa đặc sắc của người Ê Đê ở Tây Nguyên.

< Cây nêu trừ tà và mang những điều may mắn cho du khách đến thăm nhà dài Ê Đê.

Nhớ lại thời kỳ đó, già làng Ma Len cho biết: “Người Ê Đê ở Buôn Kô Sia chúng tôi thèm nghe tiếng cồng chiêng như con suối thèm nước vào mùa Tây Nguyên khô khát. Dulichgo

Từ khi chúng tôi mở lớp truyền dạy cồng chiêng cho giới trẻ, tiếng chiêng được vang lên mỗi tối ở nhà dài át đi tiếng loa đài ngoài phố lũ, làng như được giải cơn khát âm thanh của đại ngàn”.

< Thưởng thức tiếng khèn đinh tắt tà, câu hát truyền thống của bà con dân tộc Ê Đê.

Ban đầu lớp cồng chiêng được dạy tại nhà dài của già làng Ma Len thu hút sự tò mò của người dân thành phố và khách du lịch. Có rất nhiều du khách nước ngoài hằng tối đến tận buôn Kô Sia để nghe và xem các nghệ nhân dạy hát và đánh cồng chiêng cho lớp trẻ.

< Đội cồng chiêng buôn Kô Sia biểu diễn những âm điệu của núi rừng Tây Nguyên trong nhà dài.

Từ khi Đội cồng chiêng buôn Kô Sia hoạt động có hiệu quả, những thế hệ trẻ đã biết đánh cồng, chiêng và tích cực tham gia các hội diễn văn hóa do tỉnh Đắc Lắc và khu vực Tây Nguyên tổ chức thì địa danh buôn Kô Sia đã nổi tiếng trong vùng.

< Nhà dài ở buôn Kô Sia là nơi sinh hoạt văn hóa của một trong các đội cồng chiêng nổi tiếng nhất Tây Nguyên.

Cách đây ba năm, Sở văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Đắc Lắc có đến đặt vấn đề với già làng Ma Len và Đội cồng chiêng buôn Kô Sia tổ chức giới thiệu văn hóa của người Ê Đê dành cho khách du lịch. Theo đó, các công ty du lịch, lữ hành cũng liên hệ để phát triển tour tại buôn Kô Sia để làm đa dạng các loại hình du lịch ở Tây Nguyên.

Từ khi buôn Kô Sia phát triển du lịch, đời sống đồng bào Ê Đê nơi đây được cải thiện rõ rệt. Ông Aê Yon ở Kô Sia cho biết rằng: “ Buôn chúng tôi giờ chuyên môn hóa trong việc phát triển du lịch. Này nhé, đàn bà con gái thì chuẩn bị các món ẩm thực truyền thống của người Ê Đê để du khách thưởng thức, đám thanh niên thì thành lập đội hát dân ca, sử thi còn lớp người gia chúng tôi thì đánh cồng, chiêng trong nhà dài”. Dulichgo

< Du khách đến thăm nhà dài ở buôn Kô Sia thưởng thức các điệu dân ca dân vũ truyền thống của người Ê Đê.

Hiện nay, hằng tuần buôn Kô Sia đón hằng chục đoàn khách đến để thưởng thức âm thanh cồng chiêng và những nét văn hóa đặc sắc của người Ê Đê. Mỗi đêm tại nhà dài ở buôn Kô Sia du khách được các nghệ nhân và lũ làng phục dựng lại các lễ hội truyền thống như: Lễ lúa mới, lễ đầu năm, lễ hội cầu mùa, lễ đẻ đất, đẻ nước...

< Cùng nhau thưởng thức những ché rượu cần...

Tại nhà dài của già làng Ma Len chúng tôi gặp đoàn khách là những sinh viên khoa Phương đông học của trường Khoa học Xã hội và Nhân văn đang hứng thú nghe những điệu dân ca mượt mà của người Ê Đê. Sinh viên Nguyễn Tuấn Hùng chia sẻ rằng: “ Em đang tìm hiểu về văn hóa của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên để làm đề tài tốt nghiệp. Tại đây, nghe và xem các nghệ nhân đánh cồng chiêng, nghe hát dân ca em như thấy được văn hóa cả Tây Nguyên gói gọn trong nhà dài”.

Nói về sự hiệu quả của buôn Kô Sia trong công tác phát triển du lịch, Ông Nguyễn Minh Đức, Phó chủ tịch UBND phường Tân Lập cho biết: “ Sản phẩm khách nhà dài ở buôn Kô Sia đã trở thành một loại hình du lịch đặc sắc của địa phương chúng tôi. Thông qua sản phẩm du lịch khách nhà dài, người Ê Đê có cơ hội quảng bá văn hóa với bè bạn quốc tế và quan trọng hơn, chúng tôi đã thành công trong việc bảo tồn văn hóa gắn với việc phát triển kinh tế”.

Nhà dài là nhà ở truyền thống của dân tộc Ê Đê. Nhà dài là nơi ở chung cả một dòng họ và thường xuyên được nối dài thêm mỗi khi một thành viên nữ trong gia đình xây dựng gia thất. Nhà dài được xây dựng bằng vật liệu gỗ, tre, nứa lợp mái tranh và là nơi diễn ra các nghi lễ đánh công chiềng của buôn khi tiếp khách ở nơi xa đến.

Theo Thông Thiện, Tất Sơn (Báo Ảnh VN)
Du lịch, GO!

Monday, December 29, 2014

Bảo tàng Điêu khắc Chăm

Bảo tàng Điêu khắc Chăm được xây dựng từ năm 1915 và chính thức khánh thành vào đầu năm 1919. 

< Nằm ngay trung tâm thành phố, bảo tàng điêu khắc Chăm nổi bật với nước sơn vàng, kiểu dáng kiến trúc độc đáo kết hợp giữa phong cách Pháp và  Chăm. Ngay ở sân trước, ban quản lý đã cho đặt những bức tượng điêu khắc Chăm bằng đá, kích thích sự tò mò của du khách.

Thật ra, hơn 20 năm trước đó, người ta đã tập trung về địa điểm này nhiều hiện vật điêu khắc Chăm được tìm thấy trong vùng Đà Nẵng, Quảng Nam và các tỉnh lân cận. Một bức ảnh chụp vào đầu thế kỷ XX cho thấy địa điểm được chọn để tập trung các hiện vật là một gò đất có nhiều cây lớn, các mảng đài thờ, tượng đá được xếp đặt rải rác ngoài trời.

< Nhìn bên ngoài du khách dễ lầm tưởng không gian bảo tàng nhỏ, nhưng thật ra khá rộng, chia thành các phòng trưng bày: Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Đồng Dương, Tháp Mâm và các tỉnh lân cận. Phía sau bảo tàng là gian nhà hai tầng mới xây, tầng một để trưng bày những cổ vật còn cất giữ trong kho. Tầng hai trưng bày tranh ảnh, tài liệu về kiến trúc Chăm và các nền văn hóa khác ở khu vực Đông Nam Á.

< Hiện nay bảo tàng lưu giữ hơn 2000 cổ vật nền văn hóa Chăm, trong số đó có khoảng 500 cổ vật được trưng bày, số còn lại được ban quản lý lưu giữ cẩn thận trong kho. Ba trong số 2000 cổ vật là bảo vật quốc gia  gồm Tượng Bồ Tát Tara, Đài thờ Mỹ Sơn E1 và Đài thờ Trà Kiệu.

Việc thu thập những tác phẩm điêu khắc Chăm bắt đầu từ những năm cuối thế kỷ XIX  được thực hiện bởi những người Pháp yêu ngành khảo cổ học, đặc biệt là của những người làm việc cho Trường Viễn Đông Bác Cổ của Pháp ( L' École francais d' Éxtrême - Orient, viết tắt là EFEO) và những đồng nghiệp Việt Nam. Dulichgo

< Đài thờ Mỹ Sơn E1 là hiện vật tiêu biểu cho kiến trúc đài thờ của khu di tích Mỹ Sơn. Đây là đài thờ duy nhất được tìm thấy có miêu tả nhiều nhân vật và cảnh sinh hoạt cùng cảnh tượng thiên nhiên, động vật, là căn cứ để nghiên cứu về đời sống tâm linh và xã hội của người Chăm cổ đại.

Từ đầu thế kỷ XX, một số hiện vật điêu khắc Chăm đã được chuyển đi Pháp, một số khác được chuyển ra Bảo tàng tại Hà Nội và Bảo tàng tại Sài Gòn, nhưng phần nhiều những tác phẩm tiêu biểu vẫn còn để lại tại Đà Nẵng.

< Nền văn hóa Chăm tôn thờ thần Mẹ xứ sở, vì vậy hình ảnh nữ thần và bộ ngực của phụ nữ được sử dụng nhiều trong kiến trúc điêu khắc Chăm.

Ý tưởng về xây dựng ở Đà Nẵng một nhà bảo tàng cho các tác phẩm điêu khắc Chăm đã manh nha từ năm 1902 với một đề án của Khoa Khảo cổ của EFEO và tòa nhà đầu tiên của bảo tàng được chính thức hoàn thành 17 năm sau đó theo thiết kế của hai kiến trúc sư người Pháp là Delaval và Auclair. Dulichgo

< Hình ảnh các vị thần mang hình hài động vật, vị thần gắn với các nhân tố tự nhiên như nước, đất, lá, lửa… cũng được sử dụng rất nhiều trong kiến trúc điêu khắc Chăm.

Quá trình xây dựng đề án và vận động để đề án được thực hiện có sự đóng g óp lớn của Henri Parmentier, chuyên gia khảo cổ của EFEO và là một trong những người đầu tiên có đóng góp quan trọng trong việc sưu tầm, nghiên cứu di sản văn hóa Chăm. Toàn bộ toà nhà và phong cách kiến trúc ban đầu của bảo tàng vẫn còn giữ lại cho đến ngày nay mặc dầu đã trải qua hai lần mở rộng quan trọng.

< Những bức tượng điêu khắc Chăm chủ yếu được làm bằng chất liệu đá sa cát, những hoa văn vô cùng tinh xảo, độc đáo cho thấy sự phát triển vô cùng mạnh mẽ của nghệ thuật điêu khắc Chăm thời bấy giờ. Ngoài ra các chất liệu đất nung và đồng cũng được sử dụng rộng rãi.

< Nền văn hóa Chăm chịu ảnh hưởng bởi Phật Giáo của Ấn Độ. Bức tượng Bồ Tát Taza (dịch thành Độ Mẫu, Cứu Độ Mẫu) được làm bằng đồng này là một minh chứng. Đây là một trong những bảo vật quốc gia, một kỉ vật vô giá mà bảo tàng đang trưng bày.

Ngày 02 tháng 7  năm 2007, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng có Quyết định số 5070/QĐ-UBND về việc thành lập Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, là một đơn vị độc lập với Bảo tàng Đà Nẵng, trực thuộc Sở Văn hóa - Thông tin, nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng.

< Đài thờ đức Phật, các vị Bồ Tát và đệ tử cũng là minh chứng cho sự phát triển và tầm quan trọng của Phật Giáo trong văn hóa Chăm.

< Nhìn vào lượng khách có mặt có thể dễ nhận ra, bảo tàng Chăm không nhận được nhiều sự quan tâm của du khách Việt, nhưng lại rất dấp dẫn khách nước ngoài. Khách người Việt tới thăm bảo tàng chủ yếu là sinh viên và học sinh đi theo chương trình của nhà trường.

< Đến bảo tàng điêu khắc Chăm bạn sẽ như đi lạc vào quá khứ huy hoàng, sống động của dân tộc Chăm, với những đền thờ nguy nga, tráng lệ - là sự giao thoa giữa nghệ thuật đỉnh cao và thế giới tâm linh huyền bí.

Bảo tàng Điêu khắc Chăm là nơi lưu giữ cổ vật Chăm quy mô nhất cả nước, bảo tàng điêu khắc Chăm là điểm du lịch được nhiều người ghé thăm khi tới Đà Nẵng.

Theo Chammuseum.danang, Trần Việt Anh (Vnexpress)
Du lịch, GO!

Biển và văn hóa biển ở Bình Định

(NDO) - Phong tục tập quán, vốn văn hóa văn nghệ dân gian vùng biển Bình Định rất phong phú, đa dạng. Vị trí biển Bình Định và cảng Quy Nhơn không những có nhiều nét văn hóa hấp dẫn cần được nghiên cứu, gìn giữ, phát huy mà hiện nay đóng vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển vùng trọng điểm kinh tế miền trung.

Nếu không kể các đường bờ của hải đảo, bán đảo, tỉnh Bình Định có khoảng 134 km bờ biển. Do ảnh hưởng nhô ra của các dãy núi, cũng như khí hậu và tác động của các quá trình thủy văn động lực của biển, đủ tạo nên sự phức tạp của vạch bờ, đồng thời cũng tạo nên nhiều đầm, phá ven biển như: Đầm Trà Ổ, đầm Nước Ngọt, đầm Mỹ Khánh, đầm Thị Nại và phá Công Khanh.

Các đầm, phá được ngăn cách với biển bởi các doi cát hoặc các dãy núi thấp và trao đổi nước với biển thông qua các cửa rất hẹp. Dạng địa hình đầm, phá sẽ đem lại nguồn lợi kinh tế đáng kể nếu được chú ý nghiên cứu đầu tư vào việc nuôi trồng, khai thác các nguồn lợi thủy, hải sản. Dulichgo

Với sự tác động của các quá trình tự nhiên đã tạo cho bờ biển Bình Định có nhiều vẻ đẹp hùng vĩ và nhiều đầm, phá, có nhiều tiềm năng cho việc phát triển du lịch, nuôi trồng thủy, hải sản.

Dọc bờ biển Bình Định có các cửa biển: Tam Quan, An Dũ, Hà Ra, Đề Gi và cửa Quy Nhơn. Dọc ven bờ biển Bình Định có 32 hải đảo lớn nhỏ, trong đó có mười cụm hải đảo, đáng lưu ý là đảo Cù Lao Xanh. Cù Lao Xanh có vai trò quan trọng về kinh tế, văn hóa và quốc phòng. Nơi đây có nhiều dân cư sinh sống, có cảng cá khá lớn, là nơi ra vào của tàu, thuyền đánh cá và tránh bão thuận lợi. Trong điều kiện kinh tế phát triển, Cù Lao Xanh có thể trở thành khu du lịch sinh thái hấp dẫn.

Cửa Tam Quan (Kim Bồng) là nơi bắt đầu của bờ biển Bình Định. Từ Kim Bồng chạy vào, bờ biển thấp và toàn cát. Đi thêm một đoạn vài cây số nữa thì đến cửa An Dũ. Cửa biển này rất dễ bị cát bồi lấp. Qua khỏi cửa An Dũ (Hoài Nhơn) vào Phù Mỹ, núi Bích Khê chạy sát biển nên nhiều nơi: 'Chờn vờn mặt nước cây toan lội - Lấp lửng chân non sóng muốn trèo'.

Gần về phía nam huyện Phù Mỹ là cửa biển Hà Ra. Cửa biển thông vào đầm Trà Ổ. Ngoài khơi, trước cửa Hà Ra có một hòn đảo nhỏ giống hình con rùa bò, tục gọi là Hòn Quy, như một nét son tô điểm cho gương mặt cửa biển này. Từ Hà Ra vào đến Vĩnh Lợi thuộc xã Mỹ Thành, huyện Phù Mỹ, trừ Hòn Vi Rồng thuộc thôn Tân Phụng, xã Mỹ Thọ, huyện Phù Mỹ và Hòn Lang (Vĩnh Lợi) thì tất cả đều là bãi cát trắng bằng phẳng. Truyền thuyết rằng trước kia vùng đất này từng là rừng cây sau một đêm giông bão đã trở thành bãi cát trắng. Dulichgo

Xuôi về phía nam cửa Hà Ra là đến cửa biển Đề Gi thuộc huyện Phù Cát. Đề Gi thông với đầm Nước Ngọt về phía tây, phía xa là Hòn Lang làm cánh cửa phía bắc, mũi đất Đề Gi làm cánh cửa phía nam. Đề Gi nhờ có cửa ở phía đông và chợ ở phía tây, tục gọi là chợ Gành mà trở thành một nơi đô hội phồn thịnh.

Ngay trước cửa biển có mấy hòn đảo nhỏ gọi là Hòn Trâu. Không biết có phải nhóm đảo mà dân gian đã truyền rằng: Nối liền một dải với cửa Đề Gi là cửa biển Cách Thử, một vùng đầy cát trắng. Trước kia cửa biển này lưu thông với đầm Thị Nại ở phía nam nhưng giờ chỉ còn là vùng đất trồng dương liễu vi vu làm bờ chắn xâm thực của biển vào đất liền.

Bán đảo Phương Mai và đầm Thị Nại vốn đã đẹp nay lại càng trở nên có sức sống nhờ cây cầu vượt biển nối thành phố Quy Nhơn và bán đảo. Cây cầu như một chất xúc tác góp phần phát triển khu kinh tế Nhơn Hội. Không chỉ đơn thuần là một tuyến giao thông mà cầu Thị Nại đã tô điểm cho vẻ đẹp nên thơ của đầm Thị Nại, là nét chấm phá trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Bình Định...

Một đường ven biển kéo dài đã làm cho Bình Định không chỉ phong phú về địa hình mà còn tạo nên nhiều nét văn hóa biển đặc sắc, nhiều làng nghề đánh bắt hải sản xa bờ, nhộn nhịp những buổi chiều thuyền về. Đó còn là cơ sở nguồn cội cho tín ngưỡng văn hóa biển, phản ánh đời sống tinh thần của ngư dân. Có thể nói, truyền thống văn hóa biển, về lối sống của cộng đồng cư dân ven biển, khai thác các nguồn lợi thủy hải sản, nếp ứng xử của ngư dân Bình Định với biển cả cho tới nay đã có nhiều vấn đề đang được nghiên cứu, làm sáng tỏ, nhằm định hướng gìn giữ, phát huy truyền thống tốt đẹp của một vùng văn hóa đặc sắc.

Theo Nhân Dân, ảnh internet
Du lịch, GO!

Monday, December 22, 2014

Độc đáo ẩm thực nấu ống lồ ô

(BKT) - Cơm, canh, thịt, cá... tất cả đều được nấu trong ống lồ ô - đây là nét độc đáo trong quá trình chế biến thức ăn của đồng bào các DTTS Tây Nguyên nói chung và Kon Tum nói riêng.

Độc đáo món ăn nấu trong ống lồ ô

Không quá cầu kỳ trong cách chế biến, không kén chọn nguyên liệu, nhưng các món ăn được nấu trong ống lồ ô luôn giữ được hương vị đậm đà, nguyên gốc của thực phẩm. Loại hình ẩm thực này ngày càng được nhân rộng, vượt qua cổng làng đi vào thực đơn của các nhà hàng, khách sạn…

Già làng A Wer (làng Kon Rờ Bàng 2, xã Vinh Quang, thành phố Kon Tum) cho biết: Ngày xưa, cuộc sống khó khăn, các loại dụng cụ để chế biến thức ăn như xoong, nồi, chảo… không có như bây giờ, nên đồng bào DTTS đã biết tận dụng loại nguyên liệu sẵn có trong rừng để nấu thức ăn, đó là ống lồ ô.

“Vả lại, công việc làm nương rẫy, nay đến cánh rừng này, mai đi cánh rừng khác cũng không tiện cho việc mang vác các dụng cụ bếp núc đi theo, nên dùng lồ ô để nấu ăn là rất phù hợp. Đi đến đâu, chỉ cần phát lấy vài cây lồ ô, xuống suối lấy nước là có thể nấu cơm, nấu canh cho cả nhà ăn. Lồ ô được dùng để nấu ăn phải được lựa chọn kỹ càng, yêu cầu không được quá già mà cũng không quá non, thân thẳng, lóng dài và phần ruột rỗng phải lớn để chứa được nhiều thức ăn. Công việc nấu nướng này là của đàn bà, con gái trong nhà.” – Già A Wer chia sẻ.

Trong các món ăn truyền thống của đồng bào DTTS được nấu từ ống lồ ô, có thể kể đến những món như cơm nướng ống (cơm lam) được nấu từ loại gạo nếp rẫy nướng trên than hồng khi chín có vị dẻo, thơm, quyện lẫn vị ngọt của ống lồ ô, khó có món cơm nấu từ nồi, chõ nào ngon như vậy. Dulichgo

Đặc biệt, món canh thụt được nấu từ gạo, cà đắng, lá bép, đọt mây, cá suối trong ống lồ ô… khi ăn có vị đắng của cà và đọt mây, vị béo của cá, vị bùi bùi của gạo rất hấp dẫn; rồi món lá mỳ nấu cá suối, khi ăn có hương vị thơm, vừa đắng vừa ngọt…

Với cách chế biến không cầu kì, không cần nêm nếm quá nhiều gia vị, khi thưởng thức chỉ cần chấm thêm chút muối, ớt, lá é là đủ. Chính vì thế mà món ăn được nấu từ ống lồ ô luôn giữ được hương vị nguyên gốc, thuần khiết, mang hương vị đặc trưng, luôn cuốn hút bất kỳ ai khi đã một lần được thưởng thức.

Dù không cầu kỳ trong chế biến, nhưng nấu nướng trong ống lồ ô lại là cả một nghệ thuật. Khi nấu, một đầu ống được dựng nghiêng lên, phải canh lửa, tính toán thời gian hợp lý, trở đều tay để thức ăn chín đều và không bị cháy, khi lấy ra bốc lên mùi thơm phức rất đặc trưng của từng loại nguyên liệu…

Thế nên, chỉ có những bàn tay khéo léo của các bà, các chị mới cho ra những món ăn ngon từ những thứ nguyên liệu bình dị và cả dụng cụ nấu ăn cũng rất giản đơn này.

Vượt cổng làng ra phố

Vì món ăn được nấu trong ống lồ ô luôn giữ được hương vị tự nhiên, nguyên gốc nên nó có sức hấp đặc biệt với nhiều người từ nơi khác đến, thậm chí cả du khách nước ngoài. Vì thế mà ẩm thực lồ ô bây giờ đã vượt qua khỏi không gian mỗi làng, đi vào trong thực đơn của rất nhiều nhà hàng, khách sạn, quán ăn.

Các món ăn nấu trong ống lồ ô cũng phong phú hơn, ngoài những món truyền thống bình dị, còn có cả nguyên liệu hiện đại như dê, bò…, chỉ có điều hương vị đặc trưng của thức ăn nấu trong ống lồ ô này thì vẫn khó có món ăn nào sánh nổi.

Cùng với rượu cần, món ăn nấu bằng lồ ô giờ đã trở thành nét đặc trưng mà nhiều người khi đến Kon Tum đều muốn được thưởng thức.

Tuy nhiên, trong khi nhiều nhà hàng, khách sạn nắm bắt được nhu cầu của thực khách, đưa những món ăn được chế biến trong ống lồ ô vào thực đơn ngày càng nhiều, nâng tầm cho ẩm thực lồ ô, thì trong đời sống của người dân các làng đồng bào DTTS, các món ăn được chế biến trong vật dụng độc đáo này ngày càng thưa dần và ít đi. Dulichgo

Già A Hưu (làng Kon Ktu, xã Đăk Rơ Wa, thành phố Kon Tum) giãi bày: Với dân mình, nấu cơm, canh bằng nồi điện, nồi thuỷ tinh cũng không ngon bằng nấu trong ống lồ ô đâu; muốn ăn cho no, cho đã cái bụng thì phải nấu bằng ống lồ ô thôi. Nhưng bây giờ, các gia đình ít nhà còn nấu nướng bằng ống lồ ô, mà lại nấu bằng nồi điện, nồi nhôm, nồi inox như người dân ở dưới đồng bằng rồi...

Điều này cũng dễ hiểu là bây giờ cuộc sống hiện đại, các loại bếp gas, bếp từ, bếp điện... ngày càng nhiều, các loại dụng cụ để chế biến thức ăn cũng vô cùng phong phú, con người cũng bận rộn hơn, nên người dân các làng đồng bào DTTS cũng có nhiều lựa chọn để công việc bếp núc được thuận tiện, nhanh chóng hơn.

Nhưng điều quan trọng nhất là hiện nay, lồ ô không sẵn như trước nữa, những cánh rừng lô ô bạt ngàn giờ đã không còn; nguyên liệu khan hiếm dần cùng với giá trị của cây lồ ô ngày càng được nâng cao, nên người ta khai thác chủ yếu là để bán.

“Bây giờ tục nấu cơm, canh bằng ống lồ ô chỉ còn dùng khi làng có lễ hội, để dân làng có dịp thưởng thức các món ăn, ôn lại những lễ nghi truyền thống và một điều không kém phần quan trọng là để truyền dạy cho lũ con cháu một nét văn hoá đặc trưng đã gắn bó từ bao đời nay trong đời sống của dân làng, của tổ tiên mình...” – Già A Hưu cho biết.

Cuộc sống ngày càng phát triển, việc nấu ăn bằng ống lồ ô không còn được người dân duy trì thường xuyên, đó cũng là xu thế tất yếu. Song, để góp phần giữ gìn, phát huy đa dạng bản sắc văn hóa riêng của đồng bào các DTTS trên địa bàn tỉnh, cần có biện pháp bảo tồn loại hình ẩm thực nấu trong ống lồ ô này.

Theo Thuỳ Hương (Báo Kontum), ảnh internet
Du lịch, GO!