Monday, December 29, 2014

Bảo tàng Điêu khắc Chăm

Bảo tàng Điêu khắc Chăm được xây dựng từ năm 1915 và chính thức khánh thành vào đầu năm 1919. 

< Nằm ngay trung tâm thành phố, bảo tàng điêu khắc Chăm nổi bật với nước sơn vàng, kiểu dáng kiến trúc độc đáo kết hợp giữa phong cách Pháp và  Chăm. Ngay ở sân trước, ban quản lý đã cho đặt những bức tượng điêu khắc Chăm bằng đá, kích thích sự tò mò của du khách.

Thật ra, hơn 20 năm trước đó, người ta đã tập trung về địa điểm này nhiều hiện vật điêu khắc Chăm được tìm thấy trong vùng Đà Nẵng, Quảng Nam và các tỉnh lân cận. Một bức ảnh chụp vào đầu thế kỷ XX cho thấy địa điểm được chọn để tập trung các hiện vật là một gò đất có nhiều cây lớn, các mảng đài thờ, tượng đá được xếp đặt rải rác ngoài trời.

< Nhìn bên ngoài du khách dễ lầm tưởng không gian bảo tàng nhỏ, nhưng thật ra khá rộng, chia thành các phòng trưng bày: Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Đồng Dương, Tháp Mâm và các tỉnh lân cận. Phía sau bảo tàng là gian nhà hai tầng mới xây, tầng một để trưng bày những cổ vật còn cất giữ trong kho. Tầng hai trưng bày tranh ảnh, tài liệu về kiến trúc Chăm và các nền văn hóa khác ở khu vực Đông Nam Á.

< Hiện nay bảo tàng lưu giữ hơn 2000 cổ vật nền văn hóa Chăm, trong số đó có khoảng 500 cổ vật được trưng bày, số còn lại được ban quản lý lưu giữ cẩn thận trong kho. Ba trong số 2000 cổ vật là bảo vật quốc gia  gồm Tượng Bồ Tát Tara, Đài thờ Mỹ Sơn E1 và Đài thờ Trà Kiệu.

Việc thu thập những tác phẩm điêu khắc Chăm bắt đầu từ những năm cuối thế kỷ XIX  được thực hiện bởi những người Pháp yêu ngành khảo cổ học, đặc biệt là của những người làm việc cho Trường Viễn Đông Bác Cổ của Pháp ( L' École francais d' Éxtrême - Orient, viết tắt là EFEO) và những đồng nghiệp Việt Nam. Dulichgo

< Đài thờ Mỹ Sơn E1 là hiện vật tiêu biểu cho kiến trúc đài thờ của khu di tích Mỹ Sơn. Đây là đài thờ duy nhất được tìm thấy có miêu tả nhiều nhân vật và cảnh sinh hoạt cùng cảnh tượng thiên nhiên, động vật, là căn cứ để nghiên cứu về đời sống tâm linh và xã hội của người Chăm cổ đại.

Từ đầu thế kỷ XX, một số hiện vật điêu khắc Chăm đã được chuyển đi Pháp, một số khác được chuyển ra Bảo tàng tại Hà Nội và Bảo tàng tại Sài Gòn, nhưng phần nhiều những tác phẩm tiêu biểu vẫn còn để lại tại Đà Nẵng.

< Nền văn hóa Chăm tôn thờ thần Mẹ xứ sở, vì vậy hình ảnh nữ thần và bộ ngực của phụ nữ được sử dụng nhiều trong kiến trúc điêu khắc Chăm.

Ý tưởng về xây dựng ở Đà Nẵng một nhà bảo tàng cho các tác phẩm điêu khắc Chăm đã manh nha từ năm 1902 với một đề án của Khoa Khảo cổ của EFEO và tòa nhà đầu tiên của bảo tàng được chính thức hoàn thành 17 năm sau đó theo thiết kế của hai kiến trúc sư người Pháp là Delaval và Auclair. Dulichgo

< Hình ảnh các vị thần mang hình hài động vật, vị thần gắn với các nhân tố tự nhiên như nước, đất, lá, lửa… cũng được sử dụng rất nhiều trong kiến trúc điêu khắc Chăm.

Quá trình xây dựng đề án và vận động để đề án được thực hiện có sự đóng g óp lớn của Henri Parmentier, chuyên gia khảo cổ của EFEO và là một trong những người đầu tiên có đóng góp quan trọng trong việc sưu tầm, nghiên cứu di sản văn hóa Chăm. Toàn bộ toà nhà và phong cách kiến trúc ban đầu của bảo tàng vẫn còn giữ lại cho đến ngày nay mặc dầu đã trải qua hai lần mở rộng quan trọng.

< Những bức tượng điêu khắc Chăm chủ yếu được làm bằng chất liệu đá sa cát, những hoa văn vô cùng tinh xảo, độc đáo cho thấy sự phát triển vô cùng mạnh mẽ của nghệ thuật điêu khắc Chăm thời bấy giờ. Ngoài ra các chất liệu đất nung và đồng cũng được sử dụng rộng rãi.

< Nền văn hóa Chăm chịu ảnh hưởng bởi Phật Giáo của Ấn Độ. Bức tượng Bồ Tát Taza (dịch thành Độ Mẫu, Cứu Độ Mẫu) được làm bằng đồng này là một minh chứng. Đây là một trong những bảo vật quốc gia, một kỉ vật vô giá mà bảo tàng đang trưng bày.

Ngày 02 tháng 7  năm 2007, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng có Quyết định số 5070/QĐ-UBND về việc thành lập Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, là một đơn vị độc lập với Bảo tàng Đà Nẵng, trực thuộc Sở Văn hóa - Thông tin, nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng.

< Đài thờ đức Phật, các vị Bồ Tát và đệ tử cũng là minh chứng cho sự phát triển và tầm quan trọng của Phật Giáo trong văn hóa Chăm.

< Nhìn vào lượng khách có mặt có thể dễ nhận ra, bảo tàng Chăm không nhận được nhiều sự quan tâm của du khách Việt, nhưng lại rất dấp dẫn khách nước ngoài. Khách người Việt tới thăm bảo tàng chủ yếu là sinh viên và học sinh đi theo chương trình của nhà trường.

< Đến bảo tàng điêu khắc Chăm bạn sẽ như đi lạc vào quá khứ huy hoàng, sống động của dân tộc Chăm, với những đền thờ nguy nga, tráng lệ - là sự giao thoa giữa nghệ thuật đỉnh cao và thế giới tâm linh huyền bí.

Bảo tàng Điêu khắc Chăm là nơi lưu giữ cổ vật Chăm quy mô nhất cả nước, bảo tàng điêu khắc Chăm là điểm du lịch được nhiều người ghé thăm khi tới Đà Nẵng.

Theo Chammuseum.danang, Trần Việt Anh (Vnexpress)
Du lịch, GO!

Nghiêu Sơn Lĩnh - Cao Bằng

Sau khi Trần Dụ Tông mất, nhà Trần suy vong. Hồ Quý Ly cướp ngôi vua, lập ra nhà Hồ. Quý Ly có nhiều chính sách cải cách đất nước không hợp với lòng dân. Lòng dân đã ly tán, nay ly tán thêm. Phong kiến phương Bắc là, nhà Minh lợi dụng điều đó cướp nước ta. Chúng đặt ách đô hộ tàn bạo. Chúng tiến chiếm Cao Bằng, đến đâu cướp phá tàn bạo, giết người, cướp của; nhân dân cả nước phẫn nộ, nhất tề đứng lên đánh giặc cứu nước.

Ở Cao Bằng có 2 hào trưởng đó là Bế Khắc Thiệu và Nông Đắc Thái kết bạn từ lâu - đứng ra tụ tập dân chúng trong miền đánh giặc. Nông Đắc Thái giỏi việc cung nỏ, có đội quân hàng trăm người, bắn trăm phát trăm trúng. Bế Khắc Thiệu giỏi việc quân, được tôn làm chủ tướng, bàn và chọn dãy núi Nghiêu Sơn Lĩnh làm nơi đóng quân, luyện quân đánh giặc; chọn vùng Phúc Tăng - Kỳ Chỉ làm hậu phương sản xuất lương thực nuôi quân và là nơi dấu quân. Hàng nghìn trai tráng theo cờ khởi nghĩa đánh giặc.

Vùng núi Nghiêu Sơn Lĩnh thuở đó cây cối âm u rậm rạp, là một dải núi nằm bên bờ hữu ngạn sông Bằng Giang. Có 2 ngọn núi cao là Khau Thước ở phía đông, Khau Khiêu ở phía tây. Chen giữa 2 ngọn núi là những khe sâu, có dải đồi trải rộng đến thành Nà Lữ, địa thế rất hiểm trở. Bế Khắc Thiệu cho san ngọn núi Khau Thước - mặt núi trở nên bằng phẳng có chiều dài gần 500 m, chiều rộng gần 100 m để dựng nhà kiên cố làm nơi trú quân, luyện quân.

Ngày nay còn di tích, có 2 đường lũy chính chạy dài hai phía quanh núi, chân thành rộng 15 m, thành cao 5 m. Ngọn Khau Khiêu cao ngất làm tiền tiêu quan sát giặc thù. Lại cho dân chúng và nghĩa binh khai phá đất đai vùng Phúc Tăng, Kỳ Chỉ thành ruộng rẫy cấy lúa, trồng ngô, lấy lương thực nuôi quân, dân. Dulichgo

Bế Khắc Thiệu nhiều lần đem quân vây thành Nà Lữ. Quân Minh nao núng, trốn hết về đóng ở Mộc Mã (thị xã Cao Bằng ngày nay). Nhiều lần, quân Minh đến vây thành Khau Thước, bị đội quân cung nỏ của Nông Đắc Thái bắn diệt nên chúng rất sợ hãi. Quân giặc thiếu lương ăn đã cướp thóc lúa, trâu bò, lợn của dân chúng. Nghĩa binh, dân chúng hợp lực đánh chặn lại. Chúng bỏ chạy, Bế Khắc Thiệu cho lập các dẻ như làng chiến đấu làm nơi giấu lương thực, trâu bò, tránh ẩn cho phụ nữ, người già, trẻ em, có dân quân bảo vệ phòng khi kẻ thù kéo đến cướp phá.

Giặc Minh lại cho tăng quân đến một vệ (50.000 người) đóng khắp nơi, trở lại chiếm thành Nà Lữ. Quân giặc càng đông, càng thiếu lương thực. Chúng khốn đốn, xin đến đàm phán với Bế Khắc Thiệu nhưng bị từ chối. Một đêm cuối thu năm Bính Ngọ (1426), tướng giặc Trình Dương đem đại quân, có kẻ gian dẫn đường, từ thành Nà Lữ, vượt qua Kẻ Chẵng, Roỏng Nguổc men theo chân núi phía tây của ngọn núi Khau Khiêu, tiến vào thung lũng Nà Khuổi, có ý định đánh tập hậu vào doanh trại nghĩa quân ở Khau Thước. Nghĩa quân phát hiện, báo cáo lên chủ tướng, Bế Khắc Thiệu cho quân mai phục dầy đặc hai ven núi thung lũng Nà Khuổi. Dulichgo

Khi quân địch lọt vào trận địa, Bế Khắc Thiệu phát lệnh tấn công, quân thù không kịp trở tay chết như rạ, kêu la thất thanh, tiếng khóc vang động cả khe thung lũng Nà Khuổi. Tướng Trình Dương rất sợ tay cung nỏ của Nông Đắc Thái, mặc áo giáp, đeo mặt na chỉ còn hở ra 2 con mắt, lọt vào trận địa, Nông Đắc Thái phát hiện, bật dây cung, một mũi tên xuyên thẳng vào mắt phải của Trình Dương, quân Minh dìu Trình Dương ra khỏi trận địa... Trời sáng, nghĩa quân thu dọn chiến trường, mới biết kẻ thù bị giết đến 4.000 tên. Xác giặc ngổn ngang, máu giặc chảy đỏ cả dòng suối Nà Khuổi. Nghĩa quân truy giặc đến thành Nà Lữ... Thành đã bỏ ngỏ, quân giặc đã trốn hết. Nhiều tin túc đưa về, quân địch đã trốn hết về nước. Cuối mùa thu năm 1426, Cao Bằng đã sạch bóng quân thù, hoàn toàn giải phóng.

Bế Khắc Thiệu xưng làm Châu Mục cai quản miền đất Cao Bằng; Nông Đắc Thái được coi việc quân. Nhớ công lao của Bế Khắc Thiệu, dân chúng đổi tên Khau Thước thành tên Khau Khắc Thiệu.

Nay ngọn núi này trong dải núi Nghiêu Sơn Linh nằm sừng sưng giữa lòng máng sông Bằng Giang. Là giao điểm của ba xã: Hồng Việt, Hoàng Tung, Bế Triều. Nghiêu Sơn Lĩnh là một thắng cảnh, một di tích lịch sử đáng ghi nhớ.

Theo E-cadao.com, ảnh internet
Du lịch, GO!

Biển và văn hóa biển ở Bình Định

(NDO) - Phong tục tập quán, vốn văn hóa văn nghệ dân gian vùng biển Bình Định rất phong phú, đa dạng. Vị trí biển Bình Định và cảng Quy Nhơn không những có nhiều nét văn hóa hấp dẫn cần được nghiên cứu, gìn giữ, phát huy mà hiện nay đóng vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển vùng trọng điểm kinh tế miền trung.

Nếu không kể các đường bờ của hải đảo, bán đảo, tỉnh Bình Định có khoảng 134 km bờ biển. Do ảnh hưởng nhô ra của các dãy núi, cũng như khí hậu và tác động của các quá trình thủy văn động lực của biển, đủ tạo nên sự phức tạp của vạch bờ, đồng thời cũng tạo nên nhiều đầm, phá ven biển như: Đầm Trà Ổ, đầm Nước Ngọt, đầm Mỹ Khánh, đầm Thị Nại và phá Công Khanh.

Các đầm, phá được ngăn cách với biển bởi các doi cát hoặc các dãy núi thấp và trao đổi nước với biển thông qua các cửa rất hẹp. Dạng địa hình đầm, phá sẽ đem lại nguồn lợi kinh tế đáng kể nếu được chú ý nghiên cứu đầu tư vào việc nuôi trồng, khai thác các nguồn lợi thủy, hải sản. Dulichgo

Với sự tác động của các quá trình tự nhiên đã tạo cho bờ biển Bình Định có nhiều vẻ đẹp hùng vĩ và nhiều đầm, phá, có nhiều tiềm năng cho việc phát triển du lịch, nuôi trồng thủy, hải sản.

Dọc bờ biển Bình Định có các cửa biển: Tam Quan, An Dũ, Hà Ra, Đề Gi và cửa Quy Nhơn. Dọc ven bờ biển Bình Định có 32 hải đảo lớn nhỏ, trong đó có mười cụm hải đảo, đáng lưu ý là đảo Cù Lao Xanh. Cù Lao Xanh có vai trò quan trọng về kinh tế, văn hóa và quốc phòng. Nơi đây có nhiều dân cư sinh sống, có cảng cá khá lớn, là nơi ra vào của tàu, thuyền đánh cá và tránh bão thuận lợi. Trong điều kiện kinh tế phát triển, Cù Lao Xanh có thể trở thành khu du lịch sinh thái hấp dẫn.

Cửa Tam Quan (Kim Bồng) là nơi bắt đầu của bờ biển Bình Định. Từ Kim Bồng chạy vào, bờ biển thấp và toàn cát. Đi thêm một đoạn vài cây số nữa thì đến cửa An Dũ. Cửa biển này rất dễ bị cát bồi lấp. Qua khỏi cửa An Dũ (Hoài Nhơn) vào Phù Mỹ, núi Bích Khê chạy sát biển nên nhiều nơi: 'Chờn vờn mặt nước cây toan lội - Lấp lửng chân non sóng muốn trèo'.

Gần về phía nam huyện Phù Mỹ là cửa biển Hà Ra. Cửa biển thông vào đầm Trà Ổ. Ngoài khơi, trước cửa Hà Ra có một hòn đảo nhỏ giống hình con rùa bò, tục gọi là Hòn Quy, như một nét son tô điểm cho gương mặt cửa biển này. Từ Hà Ra vào đến Vĩnh Lợi thuộc xã Mỹ Thành, huyện Phù Mỹ, trừ Hòn Vi Rồng thuộc thôn Tân Phụng, xã Mỹ Thọ, huyện Phù Mỹ và Hòn Lang (Vĩnh Lợi) thì tất cả đều là bãi cát trắng bằng phẳng. Truyền thuyết rằng trước kia vùng đất này từng là rừng cây sau một đêm giông bão đã trở thành bãi cát trắng. Dulichgo

Xuôi về phía nam cửa Hà Ra là đến cửa biển Đề Gi thuộc huyện Phù Cát. Đề Gi thông với đầm Nước Ngọt về phía tây, phía xa là Hòn Lang làm cánh cửa phía bắc, mũi đất Đề Gi làm cánh cửa phía nam. Đề Gi nhờ có cửa ở phía đông và chợ ở phía tây, tục gọi là chợ Gành mà trở thành một nơi đô hội phồn thịnh.

Ngay trước cửa biển có mấy hòn đảo nhỏ gọi là Hòn Trâu. Không biết có phải nhóm đảo mà dân gian đã truyền rằng: Nối liền một dải với cửa Đề Gi là cửa biển Cách Thử, một vùng đầy cát trắng. Trước kia cửa biển này lưu thông với đầm Thị Nại ở phía nam nhưng giờ chỉ còn là vùng đất trồng dương liễu vi vu làm bờ chắn xâm thực của biển vào đất liền.

Bán đảo Phương Mai và đầm Thị Nại vốn đã đẹp nay lại càng trở nên có sức sống nhờ cây cầu vượt biển nối thành phố Quy Nhơn và bán đảo. Cây cầu như một chất xúc tác góp phần phát triển khu kinh tế Nhơn Hội. Không chỉ đơn thuần là một tuyến giao thông mà cầu Thị Nại đã tô điểm cho vẻ đẹp nên thơ của đầm Thị Nại, là nét chấm phá trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Bình Định...

Một đường ven biển kéo dài đã làm cho Bình Định không chỉ phong phú về địa hình mà còn tạo nên nhiều nét văn hóa biển đặc sắc, nhiều làng nghề đánh bắt hải sản xa bờ, nhộn nhịp những buổi chiều thuyền về. Đó còn là cơ sở nguồn cội cho tín ngưỡng văn hóa biển, phản ánh đời sống tinh thần của ngư dân. Có thể nói, truyền thống văn hóa biển, về lối sống của cộng đồng cư dân ven biển, khai thác các nguồn lợi thủy hải sản, nếp ứng xử của ngư dân Bình Định với biển cả cho tới nay đã có nhiều vấn đề đang được nghiên cứu, làm sáng tỏ, nhằm định hướng gìn giữ, phát huy truyền thống tốt đẹp của một vùng văn hóa đặc sắc.

Theo Nhân Dân, ảnh internet
Du lịch, GO!

Sunday, December 28, 2014

Ghềnh Đá Đĩa bên biển Phú Yên

Dọc ven biển miền Trung không thiếu những ghềnh đá đẹp như Ghềnh Ráng (Quy Nhơn), Ghềnh Bàng (Đà Nẵng) hay ghềnh Bàn Than (Quảng Nam), nhưng độc đáo nhất phải kể đến ghềnh Đá Đĩa (Phú Yên).

Đối lập với màu nước biển xanh ngăn ngắt là màu đen huyền bí của một bãi đá nhấp nhô trải dài ven biển, khiến ai ngang qua cũng phải ngỡ ngàng. Ghềnh Đá Đĩa (gành Đá Dĩa) nằm trong xã An Ninh Đông, huyện Tuy An của tỉnh Phú Yên. Từ thành phố Tuy Hòa theo quốc lộ 1A về hướng Bắc khoảng 30km, đến thị trấn Chí Thạnh rẽ phải về phía Đông khoảng 12km là đến ghềnh Đá Đĩa. Bạn cũng có thể đi theo tuyến đường ven biển từ Tuy Hòa đến ghềnh Đá Đĩa dài khoảng 35 km.

Càng tiến lại gần người ta càng sửng sốt trước một kiệt tác do thiên nhiên sáng tạo bày ra trước mắt. Hàng chục nghìn cột đá hình lục giác xếp chồng lên nhau trông như một tổ ong khổng lồ bên bờ biển.

Ước tính, tại đây có khoảng 35.000 cột đá dài khoảng 60 – 80cm, dù thẳng đứng hay nghiêng vẹo nhưng tất cả đều ken khít vào nhau mà chẳng cần đến các chất kết dính như xi măng hay vôi vữa. Dulichgo


Dù vậy, đừng ngại ngần trải nghiệm cảm giác bước chân trần trên những chiếc “đĩa đá” để hiểu hơn về tên gọi đầy tính tượng hình này.

Đó là bởi trong diện tích chỉ khoảng một km2 nhưng có những chỗ đá xếp cao và thẳng, có chỗ đá lại xếp trải dài hoặc nghiêng, trông như chồng bát đĩa. Theo dòng chảy thời gian cùng những đợt sóng dồn từ biển, các cột đá ở đây chẳng hề tách rời hay đứt gẫy mà cứ bám cuốn lấy nhau. Hòn nọ nối tiếp hòn kia vươn mình ra biển lớn.

Với muôn hình vạn trạng, ghềnh Đá Đĩa còn hấp dẫn người xem bởi những gam màu biến đổi theo ánh sáng mặt trời.

Khi bình minh lên, màu đen tuyền của những khối đá đĩa phủ ánh vàng rực rỡ của tia nắng chói chang đầu ngày đặc trưng vùng duyên hải miền Trung. Còn khi chiều xuống, ráng đỏ hoàng hôn nhuộm hồng các phiến đá. Bởi thế, mỗi khoảnh khắc ghềnh Đá Đĩa lại mang đến cho du khách những cảm nhận khác nhau.

Bước chân như chẳng thế đứng yên khi đặt chân đến ghềnh Đá Đĩa, để khi dạo một vòng quanh danh thắng thiên nhiên kỳ vĩ này, bạn sẽ khám phá ra những điều tưởng chừng như quen thuộc nhưng lại hết sức thú vị ở đây. Dulichgo

Đó là những loài sinh vật nhỏ ẩn mình trong các hõm trũng giữa ghềnh. Nào rong rêu, tảo biển, nào tôm, cá, cua càng, đôi khi còn có cả sứa và sao biển theo sóng thủy triều trôi dạt vào đây.

Tuy chỉ toàn đá khối và sóng biển nhưng nếu đi tiếp về phía cuối ghềnh bạn sẽ thấy một bãi cát trắng thoai thoải trải dài có thể tắm với làn nước trong xanh, mát lạnh. Đôi bàn chân trần trở nên thô ráp khi bước trên nền đá nhưng khi dạo xuống đây, sẽ được sóng biển dịu êm và bờ cát mịn màng xoa dịu, một cảm giác thư thái như được mát xa chân.

Nhiều người đến và đi cho rằng ghềnh Đá Đĩa đẹp nhưng buồn vì khá vắng.

Nhưng nếu có dịp đến đây, bạn đừng bỏ qua điểm tham quan ngay gần đó là ghềnh Đèn (hay gành Đèn), bởi sẽ khiến chuyến đi của bạn thêm phần thú vị. Khác với ghềnh Đá Đĩa, những tảng đá tại ghềnh Đèn có màu hồng nhạt, không ken khít vào nhau mà chồng chất tự nhiên tạo thành nhiều hang hốc nhỏ.

Ấn tượng nhất của ghềnh nằm ở ngọn hải đăng cùng tên sơn hai màu trắng đỏ nằm nổi bật trên mũi đá đâm ngang ra biển. Đây là loại đèn báo cửa, giúp tàu thuyền hoạt động trong vùng biển Phú Yên. Đứng từ hải đăng nhìn bao quát xung quanh, bạn sẽ thấy cả một vùng trời biển mênh mông, yên bình với những con thuyền trôi lặng lẽ trong khi dưới chân sóng xô bờ đá ầm ào.

Theo Yume.vn
Du lịch, GO!

Kỳ vĩ Gành Đá Dĩa (Ghềnh Đá đĩa)
Ẩn số 'đá xếp chồng' ở Ghềnh Đá Đĩa

Homestay Chăm Nhơn Hội mùa cá ra

(BCT) - Gió bấc liu riu thổi là lúc chúng tôi đến Nhơn Hội, An Phú, An Giang, "trụ" tại nhà ông Mach-ly, để hòa cùng cuộc sống đồng bào Chăm nơi đây. Ông Mach-ly cho biết đang "mùa cá ra". Mùa cá ra là lúc nước trên các cánh đồng đầu nguồn sông Hậu (An Giang) rút xuống các kinh rạch, và cá từ trên đồng (cá linh non và các loại cá khác lên đồng sinh sôi nảy nở, sau vài tháng thành cá già) theo đó ra sông, tiếp tục cuộc hành trình tìm về thượng nguồn.

Nói rồi, ông đưa chúng tôi ra một vàm rạch ở Khánh An (An Phú) chứng kiến những hình ảnh thanh bình mà bất cứ du khách nào cũng thích thú trải nghiệm. Nơi này giăng lưới, chỗ kia vãi chài, nơi nọ thả đăng, kẻ chèo xuồng, người vọt vỏ lãi… Nhộn nhịp nhất là khi họ dỡ ngư cụ lên, khuôn mặt rạng rỡ nhìn những con cá quẫy mình tìm đường thoát. Cá linh, cá mè, cá bống tượng, cá hô đất, cá leo, cá lăng… Kẻ mua người bán rộn ràng như ngày hội.

Ông Mach-ly cho biết năm nay nước nhỏ (nước lũ về ít) cá không bao nhiêu, bán ký. Ngày xưa, người ta bán cá bằng giạ, bằng thúng, ăn không hết xẻ khô, làm mắm, nấu nước mắm. Ông cho biết, mùa cá ra kéo dài cả tháng, nhưng rộ nhất vào hai con nước kém là mùng 10 và 25 tháng 10 âm lịch. Hòa tấu khúc sông nước nầy kéo dài từ lúc trời chưa đâm mây ngang đến tận lúc mặt trời sụp bóng.

Ông Mach-ly đưa chúng tôi ra bến nước trước Thánh đường Nhơn Hội (Mas Jid Khoy Ri Yah), nơi có một chiếc ghe máy đang đậu. Đó là loại ghe lạ mắt, mũi cong, khắc sơn hoa văn khá sặc sỡ theo phong cách người Chăm. Bà Sari-pháp, chủ ghe cho biết ghe chở được trên 10 người, chạy vòng quanh Búng Bình Thiên khoảng hơn 1 tiếng đồng hồ, giá 300.000 đồng.

Đây là nghề mưu sinh của bà cùng cậu con trai nhỏ. Chồng và các con lớn của bà đang ra đầu vàm, ngã ba, ngã tư, sông rạch để săn bắt cá mưu sinh. Mùa cá ra thu hoạch gấp nhiều lần những tháng khác trong năm. Riêng bà sức yếu nên chọn nghề chạy ghe máy đưa khách du lịch tham quan búng.

Với tiếng Việt lớ lớ, Mach-ly kể: Búng Bình Thiên là một hồ nước thiên nhiên có từ mấy trăm năm, thuộc 3 xã: Nhơn Hội, Quốc Thái và Khánh Bình. Tên gọi có nghĩa "hồ nước trời", nhằm diễn tả sự mênh mông như trời đất của nó. Vào mùa khô, búng rộng trên 200ha, còn mùa nước nổi thì mặt hồ mở rộng thêm 100ha, sâu khoảng 4m. Người dân địa phương thường gọi Búng Lớn - một hồ nước ngọt lớn nhất miền Tây, dấu tích còn lại của thời xa xưa, khi nơi nầy còn là hoang địa với ao đầm giăng khắp.

Theo truyền thuyết, mùa khô hạn cuối thế kỷ 18, Nguyễn Ánh dẫn quân đến. Không có nước ngọt, ông dâng lễ vật cúng tế rồi đâm gươm xuống đất, một dòng nước trào lên, đọng thành hồ nước trong vắt. Hồ ngày một phát triển rộng lớn thành búng như ngày nay. Điểm đặc biệt của Búng Bình Thiên là bất cứ lúc nào, nước trong búng cũng trong xanh, chỉ dâng cao rồi hạ xuống. Từ năm 2012, Quốc khánh 2-9 năm nào chính quyền địa phương cũng thả cá trong búng nhằm bảo tồn, phát triển loài thủy sản. Ghe chầm chậm chạy quanh hồ, vượt qua những nhà bè nuôi cá rô phi bập bềnh sóng nước. Ghe chui qua cầu C3 trên sông Bình Di, đầu ra của búng. Trước mắt chúng tôi hiện tượng lạ kỳ: nước bên đục bên trong. Dulichgo

Rời búng, dài theo đường trải nhựa, mùi nước mắm cá linh nấu tỏa thơm quyến rũ trong đêm dần buông xuống. Cây cối hai bên đường, trong vườn với những căn nhà kiến trúc theo kiểu đồng bào Chăm ẩn hiện. Bước từng bước lên cầu thang gỗ khá cao, chúng tôi lên căn nhà sàn của ông Mach-ly. Sàn nhà láng bóng, đã bày sẵn bữa cơm tối trên tấm vải nhựa lớn. Ê hề những thức ăn đang chờ chúng tôi. Cùng ông và các thiếu nữ con ông, chúng tôi dùng bữa cơm thân mật trong câu chuyện về đồng bào Chăm Nhơn Hội mà ông Mach-ly vui vẻ kể. Đêm, chúng tôi ngủ trên nền sàn nhà khách. Con đường trước nhà im vắng. Thỉnh thoảng tiếng bò rống trong tiếng gió xào xạc lùa qua tán cây đưa chúng tôi vào giấc ngủ dịu êm.

Ẩm thực Chăm Nhơn Hội

Ông Mach-ly nhà ở Búng Bình Thiên (Nhơn Hội, An Phú, An Giang) từng thực hiện các món ăn Chăm cho Công ty Du lịch An Giang. Tại nhà, ông đã tổ chức những bữa cơm Chăm cho nhiều khách phương xa từ hơn hai năm nay.

Mùa cá ra, ông đãi khách bánh xèo. Cá linh sau mấy tháng ở trên đồng lớn mập, cứng xương nên khi làm bánh xèo phải lấy phi lê. Riêng cá linh non đầu mùa nước nổi đổ bánh xèo ăn mới ngon, vì xương mềm. Bánh xèo cá linh gói rau sống vườn nhà cắn miếng nào tê mê đầu răng miếng đó. Cá rô kho trái bứa lạ lẫm khách phương xa. Trái bứa mọc hoang, đặc sản vùng biên nầy, chua thanh, thoảng mùi đất hoang dã. Gỏi bông súng tép đồng cũng hấp dẫn. Cá lóc nướng lửa than ăn kèm rau đồng. Lẩu cá chua. Bữa ăn ngon nhưng khách Việt… buồn vì chẳng có bia, đừng nói rượu nhấm nháp vì đạo Hồi cấm tuyệt đối. Ông nói, với 5 món, ông lấy 500.000 đồng/10 khách.

Mach-ly cho biết nếu được báo trước 1 ngày, ông sẽ bày một bữa cơm thuần Chăm. Cà púa là món thể hiện văn hóa ẩm thực Chăm. Để chế biến món này, người ta cắt tiết con vật đúng quy định đạo Islam (Hồi) rồi mới xả thịt. Phần nạc cắt từng cục (thịt bò) vuông, rửa sạch, ướp gừng sả, xào săn. Trộn với hỗn hợp gia vị khô đặc biệt, để thịt thấm, cho vào chảo xào với hành, tiêu hột. Khi thịt săn bóng, khô nước thì đổ nước cốt (làm sẵn) ngập mặt. Sau đó cho dầu ăn vào chảo cùng bột màu, lá cà ri, xào thơm, gạn bỏ bột và lá, cho thịt vào. Bấy giờ đã có món cà púa màu cánh gián, thơm lừng. Dọn ra bàn bốn người ăn, một dĩa cà púa có 4 miếng thịt, ăn cùng gỏi chua và rau dưa, có khi thêm tô nước súp. Dulichgo

Cà ri – cơm nị là món chính, là cái hồn của bữa tiệc trong gia đình, họ tộc. Phải là người chuyên nghiệp mới dám nấu cơm nị. Cơm nấu bằng gạo lúa sóc (đặc sản Thất Sơn, An Giang), vo sạch, để ráo. Dừa khô nạo nhuyễn, vắt nước, thắng bồng con. Cho chút dầu ăn vào nồi, đun nóng, cho củ hành tím bằm vào, đảo đều đến khi có màu vàng ánh thì cho bơ vào, khử bột cà ri rồi cho gạo vào, xào đều tay. Sau đó cho nước dừa thắng bồng con vào cùng một ít muối, bột ngọt, trộn đều đến khi gạo gần cạn nước thì đậy nắp nồi, để lửa riu riu đến khi cơm chín, có màu vàng nghệ đẹp mắt. Cơm nị ăn với các món quay, nướng, xào… nhưng hợp nhất là ăn với cà ri – như cách người Việt thường nấu, nhưng bột mua từ Malaysia. Những hạt cơm khô mềm dẻo tơi quyện cùng những miếng da và thịt dê đẫm hương vị cà ri giòn dai nhưng không mềm. Món ngon còn nhờ những miếng dưa cải xắt nhỏ, vị mặn chua của muối ớt chanh tươi.

Theo Cát Lộc (Báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!

Ngắm trước đường hoa Hàm Nghi Tết Ất Mùi

(iHay) - Tết nguyên đán Ất Mùi 2015, đường hoa Nguyễn Huệ truyền thống được tạm dời về đường Hàm Nghi (TP.HCM) với tên gọi "Đường hoa Tết Ất Mùi 2015". Đại cảnh chủ đề ngay cổng chào đường hoa là hình ảnh gia đình dê núi.

< Gia đình dê núi là đại cảnh mở đầu cho Đường hoa Tết Ất Mùi 2015.

Sáng 22.12, Tổng công ty Du lịch Sài Gòn (Saigontourist) đã công bố thiết kế đường hoa Tết nguyên đán Ất Mùi 2015.
Do đường Nguyễn Huệ đang trong giai đoạn thi công thành quảng trường đi bộ nên đường hoa truyền thống Tết Ất Mùi 2015 sẽ được tổ chức trên đường Hàm Nghi, đoạn từ Phó Đức Chính đến Hồ Tùng Mậu, dài 510 m.

Theo thiết kế, Đường hoa Tết Ất Mùi có ba phân đoạn chính với các tên gọi: Hào khí Việt Nam, Bản sắc Việt và Vinh quang Việt Nam.

< Những trụ hoa, kén hoa đầy màu sắc.

Hình ảnh chủ đề của Đường hoa Tết Ất Mùi 2015 là một "gia đình dê", lấy cảm hứng từ hình tượng chú dê núi Ninh Bình. Các chi tiết từ đôi sừng cong, đôi tai nhỏ, chòm râu dê, chiếc đuôi ngắn đều mang nét đặc trưng của dê núi, oai phong, đỉnh đạc nhưng cũng rất hiền hòa.

Hình ảnh gia đình dê trong tư thế ngẩng cao đầu trên ngọn đồi đầy hoa và đá, mắt cùng hướng về một năm mới xán lạn, một tương lai tốt đẹp. Dulichgo

Ở phân đoạn Hào khí Việt Nam, các nghệ nhân sẽ thể hiện tinh hoa của người Việt thông qua những sản phẩm thủ công mỹ nghệ: hình ảnh búp bê bắc trung nam, mái che hoa từ sáo tăm, kén hoa khổng lồ với chất liệu gỗ...  Xen kẽ trên đoạn đường là những chú dê xinh xắn từ nhiều chất liệu như rơm, cừ tràm, vỏ gỗ kết hợp cùng nhiều loài hoa đa màu sắc.

< Một số hình ảnh trong thiết kế đường hoa Tết Ất Mùi 2015.

Ở phân đoạn Bản sắc Việt, mở đầu bằng hình ảnh hoa mai đại đóa khổng lồ mang thông điệp chúc du khách một mùa xuân đậm sắc mai vàng.

Xuyên suốt trong phân đoạn này là những suối hoa, trụ hoa, kén hoa, sông hoa đầy màu sắc được bố trí cao độ khác nhau.

Đường hoa năm nay dành một khoảng không gian cho hương vị của Ngày lễ tình yêu (14.2) với hình ảnh những chiếc ghế tim hoa đơn như một lời chúc hạnh phúc cho những người đang tìm kiếm tình yêu và những người đã và đang được yêu.

Có một hình ảnh đã thành truyền thống không thể thiếu trong đường hoa qua các năm là hình ảnh làng quê Việt Nam yên bình với cánh đồng lúa trĩu hạt, mái nhà tranh hiền hòa với tấm phản tre và đôi liễn đỏ…

Đây luôn là điểm nhấn thú vị đối với những người sinh ra và lớn lên ở thành thị, đặc biệt là trẻ em, để được gần gũi với thiên nhiên yên bình.

Vinh quang Việt Nam là phân đoạn kết của Đường hoa Tết Ất mùi. Xuyên suốt phân đoạn này là hình ảnh cuộc sống đô thị với thùng thư, khung cửa hoa. Đặc biệt, năm nay, lần đầu tiên xuất hiện hình ảnh metro hoa, phương tiện vận chuyển hiện đại đang được xây dựng tại TP.HCM.

Đường hoa kết thúc với hình ảnh “rừng” mai vàng khoe sắc thắm được kết nối với đại cảnh Xuân sum vầy của gia đình dê 3 thế hệ. Gia đình dê được phối màu bạc kết hợp với phông nền vàng rực của “rừng” mai phía sau tạo nên lời chúc Xuân Sung Túc, Xuân Thịnh Vượng mà ban tổ chức gửi đến mọi người trong năm mới.

Đây là năm thứ 12 đường hoa tết được tổ chức tại TP.HCM.

Cùng với Đường hoa Tết Ất Mùi 2015, đường đèn chào đón năm mới cũng được kết hợp thực hiện trên đường Hàm Nghi. Theo đó, tại hai đầu đường là cụm đèn tạo hình cổng búp sen. Dọc suốt đoạn giữa của tuyến đường Hàm Nghi được trang trí những khung tranh và bình hoa kết đèn long lanh như pha lê, cùng với hình ảnh những đóa hoa mai, sen, đào..

Trong khi đó, tại bùng binh Quách Thị Trang (trước chợ Bến Thành), Saigontourist thực hiện thiết kế trang trí ánh sáng gắn liền với chủ đề 40 năm Đất Nước phát triển với hình ảnh 2 đoàn tàu Metro đang lướt tới. Số 40 phối hợp với hoa mai và các bánh răng công nghiệp thể hiện đất nước tươi đẹp qua 40 mùa xuân với thành tựu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trên đỉnh cao là ngôi sao vàng sáng lấp lánh và đàn bồ câu bay về, biểu trưng cho một đất nước thanh bình, thống nhất và phát triển.

< Hình ảnh làng quê Việt Nam tiếp tục được tái hiện trên đường hoa.

Đường đèn Hàm Nghi đã bắt đầu được thi công từ ngày 1.12 và chính thức sáng đèn từ ngày 20.12.

Công trình trang trí ánh sáng tại bùng binh Quách Thị Trang thi công sau khi hoàn thành di dời các tượng đài hiện hữu, dự kiến đưa vào phục vụ từ dịp Tết Dương lịch 2015 và chào mừng 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhât đất nước.

Theo Viên An (iHay.Thanhnien)
Du lịch, GO!

Những ngôi chùa nổi tiếng tại Bình Thuận

(BTA) - Trên địa bàn tỉnh Bình Thuận hàng trăm ngôi chùa được xây dựng trong nhiều thế kỷ nay, trong đó có nhiều ngôi chùa cổ nổi tiếng về nghệ thuật kiến trúc kết hợp với thiên nhiên tươi đẹp tạo nên thắng cảnh. Có những ngội chùa gần biển, gần sông, có chùa nằm cheo leo trên đỉnh núi hoặc khuất trong rừng rậm hay ở tận đảo xa v.v...

Nghệ thuật trang trí điêu khắc tại các chùa, nhất là ở các chùa cổ là một trong những vốn văn hóa Phật giáo được lưu giữ qua nhiều thế hệ thể hiện trên những pho tượng, các mảng phù điêu đến các bài vị, hoành phi, câu đối đến nay vẫn còn nguyên giá trị lịch sử. Có thể thấy một bộ phận quan trọng cấu thành di sản văn hóa và danh lam thắng cảnh ở Bình Thuận là những ngôi chùa.

1. CHÙA NÚI

Còn gọi là Chùa Tà Cú, xây dựng chính thức vào năm 1879 do nhà sư Trần Hữu Đức trụ trì, tọa lạc trên núi Tà Cú ở độ cao 475m (hiện nay thuộc địa phận xã Tân Lập, huyện Hàm Thuận Nam). Trước kia ngôi chùa chỉ là một thảo am nhỏ bằng gỗ, tranh, nứa. Mãi sau này, từ ngôi chùa cổ ban đầu tách thêm một ngôi chùa ở bên dưới gần đó. Để phân biệt, chùa trên có tên là Linh Sơn Trường Thọ, chùa dưới gọi là Linh Sơn Long Đoàn và dân gian gọi chung là Chùa Núi.

Năm 1872 nhà sư Trần Hữu Đức (1812 - 1887) pháp danh Thông âm, từ miền Trung vào, một mình vượt núi, xuyên rừng, lên đỉnh núi Tà Cú tìm nơi an tịnh để tu hành. Mãi 7 năm sau, những người đi rừng mới phát hiện ra hang đá nơi tu hành của nhà sư nên đã góp công dựng. Vừa tu hành vừa bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân được 16 năm thì nhà sư viên tịch. Từ đó nhà chùa lấy ngày 5 tháng 10 hàng năm làm ngày giỗ Tổ.

Lúc còn sống, nhà sư là thầy thuốc giỏi. Tương truyền vào năm Canh Thìn (1880), nhà sư đã cứu Hoàng thái hậu thoát khỏi căn bệnh hiểm nghèo bằng thuốc của mình. Vua Tự Đức đã ban sắc đặt tên chùa là "Linh Sơn Trường Thọ” và suy tôn nhà sư Trần Hữu Đức là "Đại lão Hòa thượng". Ngôi chùa dưới “Linh Sơn Long Đoàn" được xây dựng vào cuốn thế kỷ XIX theo ý nguyện của nhà sư trước lúc viên tịch.

Chùa Núi Tà Cú kết hợp, xen kẽ với núi rừng đã có tiếng là nơi thắng cảnh từ xưa. Từ dưới chân núi, leo lên hàng trăm tam cấp theo con đường ngoằn ngoèo giữa rừng già mới đến chùa. Ở đây không khí trong lành, hơi nước lạnh mát toát ra từ núi đá. Chùa Núi nổi tiếng nhờ ở phong cảnh hùng vĩ nên thơ của núi rừng; mặt khác, bàn tay con người qua nhiều thế hệ thay nhau bồi đấp nên những công trình kiến trúc nghệ thuật đồ sộ có một không hai. Đó là pho tượng khổng lồ "Thích Ca nhập niết bàn" nằm ở vị trí cao nhất cách chùa khoảng 100m. Dulichgo

Bằng tài nghệ, kỹ thuật điêu khắc và lòng sùng kính, các nghệ nhân đã tạo nên pho tượng hiếm có trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Tác phẩm do kỹ sư Trương Đình Ý chủ trì thực hiện vào năm 1962. Tượng Phật Thích Ca trong tư thế nằm nghiêng, đầu gối lên tay phải, 2 chân duỗi thẳng, mặt quay về hướng tây nam, lưng dựa vào vách núi. Pho tượng dài 49m, cao 6m và nặng hàng trăm tấn. Với hàng chục ngàn kg vật liệu đúc tượng, hàng ngàn lượt người đã phải vượt 4 - 5 km đường núi hiểm trở với thời gian dài vận chuyển đủ để tạo nên tác phẩm điêu khắc nghệ thuật này.

Cách pho tượng chừng 50m là nhóm tam thể phật trong tư thế đứng: tượng A di đà, tượng Quan Âm bồ tát, tượng Đại thế chí. Cả 3 pho tượng có chiều cao khoảng 7m nét mặt hiền hòa đang nhìn bao quát thế gian.

Hằng năm vào bất cứ thời điểm nào, nhất là dịp xuân sang, hàng vạn người từ khấp nơi kéo đến chùa Núi viếng Phật, thưởng ngoạn cảnh non nước thiên nhiên.

Chùa Núi cùng với những cánh rừng bảo tồn thiên nhiên lân cận đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng Danh lam thắng cảnh quốc gia theo Quyết định số 43-VH/QĐ ngày 7 tháng 1 năm 1993.

2. CỔ THẠCH TỰ

Tục gọi là Chùa Hang được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 16 (1835) do nhà sư Bửu Tạng sáng lập, tọa lạc trên vùng đồi núi đá lô nhô sát biển ở độ cao 64m thuộc xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong. Dưới chân đồi là biển Đông với nhiều ghềnh, đá núi, bãi cát, bãi đá màu tự nhiên kết hợp lại tạo thành nơi danh lam thắng cảnh nổi tiếng ở phía Bắc Bình Thuận.

Vùng đồi núi Cổ Thạch có nhiều tảng đá lớn, chồng lên nhau chứa đựng những vẻ đẹp nguyên sơ độc đáo, tạo nên nhiều hang động kỳ vĩ huyền bí. Chùa Cổ Thạch gồm một quần thể các công trình kiến trúc chính điện, nhà tổ, gác chuông, lầu trống, nhà thiền... phần lớn đều được bài trí trong các hang đá tự nhiên.

Việc chọn điểm lập am, dựng chùa của các vị thiền sư thật tuyệt diệu. Chính diện là một hang đá rất lớn do hai tảng đá chụm đầu vào nhau tạo thành hình mái nhà. Theo truyền thuyết, thời gian đầu đến đây, thiền sư Bửu Tạng đã tu luyện ở hang đá này.

Nhà thờ Tổ khai lập Bửu Tạng cũng như nhiều nhà sư có nhiều công đức cũng được dựng trong hang đá. Hang thờ phật Chuẩn Đề có pho tượng 18 tay và nhiều tượng cổ. Hang Tam Bảo thờ 23 pho tượng Phật cổ với kích thước và niên đại khác nhau.

Ngoài vẻ đẹp tự nhiên của hang động kết hợp với sự sáng tạo của con người, chùa Hang còn lưu giữ nhiều di sản văn hóa quí. Đó là tượng Phật nhiều hình, nhiều dạng tạo nên từ nhiều chất liệu và niên đại khác nhau; một số hiện vật quý từ thuở khai lập chùa như đại hồng chung đúc năm Đinh Mùi (1847), chiếc trống sấm năm Mậu Thân (1848)...

Cái hay cái đẹp ở Chùa Hang là cả một quần thể hang động với kiến trúc rộng lớn nhiều vẻ, nhiều cảnh liên tiếp nối nhau chen chúc giữa đá và cây rừng nhấp nhô. Sự hài hòa giữa nghệ thuật hoa viên, kiến trúc điêu khắc phù hợp với cảnh tôn trí thờ phụng bên trong càng tăng thêm không khí yên tĩnh, tôn nghiêm. Sự yên bình ở đây giúp du khách trút bỏ những mệt mỏi tầm thường, quên đi những suy nghĩ đời thường để tâm hồn vươn tới cõi thiện.

Cổ Thạch Tự ngoài cảnh đẹp còn là địa danh gắn liền với hai cuộc kháng chiến vừa qua của dân tộc. Nhà chùa đã đóng góp nhiều công của cho cách mạng đến ngày thắng lợi.

Hiện nay Cổ Thạch Tự là một điểm du lịch chính ở Bình Thuận. Hàng chục vạn người từ khắp nơi đến đây mỗi năm để chiêm bái, lễ phật, tắm biển và thưởng thức đặc sản biển.

Với những giá trị lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh, Cổ Thạch Tự đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng Danh lam thắng cảnh quốc gia ở QĐ số 120/QĐ-BT, ngày 1 1 tháng 9 năm 1993.

3. LINH QUANG TỰ

Là ngôi chùa cổ nhất ở đảo Phú Quý và cũng là một trong những ngôi chùa cổ ở Bình Thuận, tọa lạc trên ngọn đồi ở xã Tam Thanh. Theo gia phả của dòng họ nhà sư Nguyễn Cánh thì Linh Quang Tự được xây dựng vào năm 1747 đời vua Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng thứ 8. Đến nay chùa đã có niên đại trên 250 năm. Dulichgo

Qua nhiều lần tu bổ, tôn tạo, ngôi chùa được biến đổi dần về diện tích của các công trình kiến trúc và trang trí nghệ thuật. Đến cuối thế kỷ XVIII do sơ suất, chùa bị cháy và gần như toàn bộ di sản trong chùa bị thiêu hủy, chỉ còn lại hàng chục pho tượng cổ bằng đồng, đất nung. Sau đó chùa tiếp tục được xây lại trên nền cũ với tổng kiến trúc lạ, đẹp bao gồm: chính điện, nhà Tiền hiền, võ ca, có dạng hình chữ Đinh. Những phần chính thờ phụng ở chùa được sắp đặt theo qui cách "Tiền Phật hậu Tổ”.(1)

Lịch sử của quá trình xây dựng chùa Linh Quang bao gồm cả về mặt kiến trúc, tôn giáo và giá trị nghệ thuật của nền văn hóa biển trên đảo - gắn liền với quá trình định cư và phát triển của nhân dân trên đảo. Ở đây, vườn chùa đóng vai trò quan trọng đưa kiến trúc Phật giáo hòa nhập với thiên nhiên tạo cho ngôi chùa cổ nét gần gũi, thân quen mà không biệt lập. Từ trong những vòm cây dày bóng mát ấy nổi lên phần kiến trúc mái chùa với đầu đao, đuôi rắn vút cong thấp thoáng. Giữa biển khơi nhìn về đảo, ngôi chùa nổi lên như một tòa lâu đài cổ kính.

Linh Quang Tự còn lưu giữ nhiều văn tự cổ nói đến sự hình thành dân cư trên đảo, là nơi bảo tồn nhiều di sản văn hóa, sưu tập các pho tượng cổ quý. Có chăng pho tượng cổ, lớn gắn liền với những huyền thoại trên đảo trong các thế kỷ trước. Chiếc đại hồng chung ở chùa là quà tặng của chùa Trà Bang (Ninh Thuận), có niên đại ở cuối thế kỷ XVIII. Trong số những cổ tự lưu giữ ở chùa còn có 5 bức sắc của triều Nguyễn ban tặng. Hàng năm khi có những nghi lễ trọng đại, nhà chùa làm lễ thỉnh sắc mới đưa xuống.

Cảnh Linh Quang Tự đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng Thắng cảnh quốc gia theo Quyết định số 51/QĐ-BT ngày 12 tháng 1 năm 1996.

4. LINH SƠN TỰ

Thiết lập vào những năm đầu của thế kỷ XIX trong khu rừng già thuộc xã Vĩnh Hảo, huyện Tuy Phong ngày nay.

Sự tích ra đời của ngôi chùa được lưu truyền trong dân gian: đầu thế kỷ XIX một nhà sư từ miền Trung vào, không biết vì lý do gì đã ẩn vào một hang đá trong rừng. Dân làng đi rừng phát hiện được tiếng tụng kinh ở hang đá vọng ra. Biết mình bị lộ, nhà sư bỏ hang đá ra đi để lại một tấm bản đồ chỉ dẫn vị trí xây cất ngôi chùa sau này. Theo đó dân làng đã chuyển vật liệu lên xây chùa. Vị trí xây dựng chùa thật lý tưởng: cảnh núi rừng âm u, yên tĩnh tạo nên sự thanh tịnh của giới tu hành. Xung quanh các đỉnh núi tạo nên tả thanh long, hữu bạch hổ, nhiều hang đá tự nhiên hình hàm ếch, hàm rồng, giếng rún rồng không bao giờ cạn nước, hang Tổ... Những hang động có sẵn của tự nhiên mà y như có sự sắp đặt của bàn tay con người.

Thời chống Pháp, thực hiện tiêu thổ kháng chiến, dân làng đã dời tượng Phật vào giấu ở trong hang đá và phá dỡ chùa; mãi đến năm 1986 - 1987, mới có điều kiện xây dựng lại ngôi chùa trên nền xưa. Trước đó vài năm, nhà sư già Phạm Hành đào đất trồng chuối cạnh tảng đá "Voi phục" trước chùa, lỡi cuốc đụng phải một chiếc ấn đúc bằng đồng màu đen, nặng 650gram, ấn có hình chữ nhật, chiều dài 9,8cm, rộng 6,5cm bên trên có núm tròn để cầm.

Phía lưng ấn có 15 chữ Hán khắc chìm chia thành 2 dòng hai bên núm ấn. Dòng bên phải khắc 10 chữ với nội dung: "Trung nghĩa vệ, Trung thắng tứ hiệu quán quân sứ". Dòng bên trái khắc 5 chữ: "Tân Hợi niên đông tạo". Dưới mặt ấn có 10 chữ khắc theo lối chữ triện; hai dòng hai bên, mỗi bên 3 chữ và dòng ở giữa 4 chữ. 10 chữ trên mặt ấn trùng với 10 chữ trên lưng ấn. Về niên đại với 5 chữ: "Tân Hợi niên đông tạo" có thể biết chiếc ấn làm vào năm Quang Trung thứ tư (1791) (Ở Bảo tàng lịch sử Hà Nội hiện lưu giữ 2 quả ấn tương tự như chiến ấn Quang Trung tìm thấy ở Linh Sơn Tự. Chiếc thứ nhất đúc năm Quang Trung thứ tư với 9 chữ Hán "Suất cùng cư quan hệ ngũ hiệu đô ty”.).
Linh Sơn tự còn lưu giữ nhiều di vật cổ có giá trị như chuông đồng, tượng nhà sư Bửu Tạng, tượng Địa tạng v.v...

Mặc cho đường sá xa xôi, nhưng hàng ngày vẫn có nhiều đoàn khách từ các nơi đến chiêm ngưỡng cảnh núi rừng, ngắm cảnh chùa và tận hưởng không khí mát mẻ trong lành của Linh Sơn Tự.

5. CHÙA ÔNG

Là ngôi chùa cổ có qui mô lớn nhất của người Hoa ở Bình Thuận, tọa lạc tại phường Đức Nghĩa, thị xã Phan Thiết hiện nay. Theo Thần phả của chùa và niên đại khắc ghi bằng dòng chữ Hán trên thanh xà gồ nóc chính điện được biết: chùa lập vào tháng 11 năm Canh Dần 1770.

Tổng thể kiến trúc ở đây từ ngày khởi tạo là một ngôi miếu lớn của người Hoa xây dựng để thờ Quan Công (Quan Thánh đế quân). Sách "Đại Nam nhất thống chí" tập 12 gọi là "Đền Quan Công" đúng với tên lúc bấy giờ của miếu; và ngay trước cổng vào chùa hiện nay còn tấm biển ghi "Quan Thánh miếu”. Hơn nữa, nội dung thờ phụng bên trong chỉ có tượng Quan công cùng những tượng khác chứ không thờ Phật và không có các nhà s ưtrụ trì. Thế nhưng trong dân gian từ xưa đến nay cả người Việt và người Hoa đều quen gọi là Chùa Ông".

Nằm trên một diện tích khá lớn, chùa có lối kiến trúc và trang trí nghệ thuật đặc trưng của người Hoa, các dãy nhà nối tiếp nhau tạo nên hình chữ Kim. Hệ thống cột, vì kèo chạm khắc rất công phu, sắc nét phần nào giống kỹ thuật chạm khắc trong các ngôi đình của người Việt. Tất cả những cột trụ chính đều có treo câu đối chạm khắc và sơn son thiếp vàng lộng lẫy. Nổi lên ở các gian thờ là những bức tranh chạm gỗ, gắn ở tường mà nội dung miêu tả các điển tích xưa của người Hoa, có niên đại ở thế kỷ XVIII. Nhiều bức hoành lớn được chuyển từ Trung Hoa qua ở thế kỷ XIX. Tượng Quan Công to lớn bằng gỗ đặt trang trọng ở gian thờ chính điện cùng hàng chục những pho tượng cổ khác. Hệ thống bao lam bao phủ quanh các khám thờ ở chùa là những tác phẩm điêu khắc bằng gỗ có giá trị về nghệ thuật mà ở các chùa chiền khác không thể có được.

Chùa Ông hiện nay còn lưu giữ chiếc chuông cổ có giá trị về lịch sử và nghệ thuật, đúc tại Quảng Đông (Trung Quốc) và chuyển sang từ triều đại nhà Thanh. Kiểu cách đúc và vật liệu giống đại hồng chung của người Việt nhưng trang trí phức tạp và rườm rà hơn trên thân chuông. Chùa Ông là một nơi sân vườn đẹp.

Trước năm 1975, ở Phan Thiết thường diễn ra lễ hội "Nghinh Ông" ở chùa Ông. Năm 1996 lễ hội này được tổ chức lại, thu hút hàng chục ngàn người từ khắp nơi. Từ bao đời nay, chùa Ông là nơi mà vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc, nhân dân thường tụ tập đông đảo để cầu cho một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, làm ăn may mắn của mọi người, mọi nhà.

Chiếc thứ hai cùng loại với chiếc ấn và cùng có niên đại "'Tân Hợi niên đông tao”.

6. CHÙA PHẬT QUANG

Xây dựng vào nửa đầu thế kỷ XVIII, tọa lạc ở thôn Minh Long nay là phường Hưng Long, thị xã Phan Thiết. Vị trí của ngôi chùa vào thời điểm xây dựng, dân cư thưa thớt, bao quanh là những đồi cát mênh mông chạy dài ra biển nên trong dân gian cũng có tên là chùa Cát.

Khuôn viên của chùa Phật Quang tương đối lớn, bên trong bao gồm một tổng thể kiến trúc, cổng tam quan, chùa Tổ, chánh điện và hệ thống các công trình phụ nối liền giữa chùa Tổ và chánh điện. Mặt chính của chùa quay về hướng Nam. Do xây dựng từ lâu đời nên chùa đã hư hỏng, xuống cấp và được tu bổ nhiều lần. Lần tu bổ gần nhất là vào năm Bảo Đại thứ 9 (Giáp Tuất 1934), đợt này tu bổ lại hoàn toàn chùa Tổ và một số hư hỏng của các hạng mục khác.

Điểm đặc biệt quan trọng trong ngôi chùa cổ này là các thế hệ thiền sư chùa đã thay nhau gìn giữ, bảo quản rất tốt nhiều bộ phận thuộc di sản văn hóa có giá trị. Đó là chiếc đại hồng chung lớn bằng đồng chạm khắc đẹp, tinh tế và 4 mặt chuông khắc địa danh, lịch sử chùa cũng như niên đại; chuông được đúc vào năm Canh Ngọ 1750 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Một số hiện vật khác là những bản khắc gỗ tạo nên bộ kinh Pháp hoa với 118 bản. Đa phần trong 118 bản khắc cả hai mặt bằng chữ Hán sắc nét bao gồm 60 vạn lời, trong đó có 7 bản khắc họa hình ảnh Đức Phật thuyết pháp. Bộ kinh Pháp hoa hoàn thành vào năm 1734 mà bản khắc cuối cùng có ghi rõ đã hoàn thành vào ngày mùng một tháng tư, năm Long Đức thứ ba vào Giáp Dần. (Long Đức là niên hiệu của vua Lê Thuần Tông (1732 - 1735) đời nhà Hậu Lê).

Bộ kinh do hai khất sỹ Ninh Dung và khất sỹ Thiết Huệ hiệu là Khánh Tài chủ trương xin phép khắc. Cũng trong bản khắc cuối cùng của bộ kinh ghi công của 6 người đứng ra quyên góp và cúng tiền, người đứng ra in, nhiều người cúng gạo cơm và đặc biệt ghi công của hai vị thiền sư cùng 12 phật tử khắc trong thời gian 28 năm mới hoàn thành bộ kinh này.

Trong số những ngôi chùa cổ ở Bình Thuận, chùa Phật Quang, ngoài kiến trúc và nội dung chứa đựng nhiều di sản văn hóa nói chung và văn hóa Phật giáo, còn có hoa viên đẹp.

Theo Địa chí Bình Thuận, ảnh internet
Du lịch, GO!