(Tiếp theo) - Xã Bình Mỹ thuộc huyện Củ Chi, cách TT Củ Chi 15 km về phía Đông - giáp ranh với Bình Dương mà ranh giới tự nhiên là con sông Sài Gòn. Gần về địa lý nên dân hai vùng qua lại trao đổi buôn bán gần gũi với nhau như cùng một tỉnh.
< Tỉnh lộ 9 chạy suốt xã Bình Mỹ từ cầu Rạch Tra.
Thời còn chiến tranh, đường đến Bình Mỹ có nhiều cách trở nên dân Bình Mỹ thường sang phía Thủ Dầu Một họctập, sinh sống. Đất Bình Mỹ so với các xã khác của huyện Củ Chi có phần mầu mỡ hơn, trồng lúa hay hoa mầu rất tốt.
< Nhiều cây xanh bóng mát, đất đai mầu mỡ tươi tốt.
Hiện nay TP đang thực hiện dự án xây mới các cây cầu trên tỉnh lộ, khi hoàn thành sẽ mở rộng TL9 - khi đó giao thông từ TP sang Bình Dương nhanh chóng thuận lợi đồng thời nâng cao kinh tế của miền đất này.
< Nhiều cây cầu trong dự án mở rộng TL 9 đã hoàn thành.
Hiện nay không còn mùa trái cây, nếu các bạn đi vào dịp hè sẽ thấy nhiều sản vật cây trái được người dân đem bày bán hai bên đường. Ngoài ra còn có cá, tôm, gà vịt, trứng gia cầm... cũng được chào bán. Bình Mỹ còn có Khu Du lịch Sinh Thái nằm bên bờ sông Sai Gòn từng được nhiều đoàn làm phim chọn làm bối cảnh.
< Ngã ba cuối TL9: cắt ngang là TL8, rẽ trái về TT Củ Chi, rẽ phải là cầu Phú Cường sang Bình Dương.
< Ngã ba Bến đò vì có bến đò sang chợ Thủ Dầu Một, dân tại đây thường sang chợ Thủ bằng đò gần hơn đi qua cầu Phú Cường.
Nếu đi thẳng là bến đò, đò ở đây xe máy đi được, qua sông là cập bến sau chợ, rất thuận lợi cho người dân tại đây. Queọ sang trái là đến cầu Phú Cường, cầu khá lớn .
< Cầu Phú Cường, bên kia có trạm thu phí. Nếu đi xế hộp từ SG sang Bình Dương chỉ phải nộp phí cầu đường 1 lần.
Cầu Phú Cường nối liền mảnh đất SG và Bình Dương, là đường huyết mạch từ Củ Chi sang Bình Dương. Thời chiến tranh, cầu nhiều lần bị phá sập gây nhiều khó khăn cho việc đi lại của dân chúng. Tôi nói khó khăn cho dân là bởi vì không có cầu, họ phải đi đò qua lại hai bờ...
< Sông Sài Gòn chảy qua Thủ Dầu Một, từ trên cầu thấy rõ nhà thờ Chính toà Bình Dương mới được xây lại.
Còn đối với QĐ thì họ có nhiều phương tiện khác (mình còn nhớ cậu mình đã từng bơi qua sông khi không có đò, dễ nể thiệt). Thời đó do đánh nhau triền miên nên dân vùng Bình Mỹ phần lớn đều sang sinh sống tại Thủ Dầu Một hay lên SG, gia đình bên ngoại mình cũng nằm trong số đó. Mãi đến năm 73 mới có thể trở về.
Thế là đã đến Bình Dương, dưới cầu là trạm thu phí cầu Phú Cường và doanh trại Công Binh, phần này không thề có hình được!
Còn tiếp
Phần 1 - Phần 2 - Phần 3 - Phần 4 - Phần 5 - Phần 6
Phương Nguyên
Du lịch, GO!
Friday, November 7, 2014
Nhà thờ Cây Vông - Nha Trang
Nằm trong phạm vi hai xã Diên Sơn và Diên Thuỷ, cực bắc Huyện hành chánh Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa Giáo xứ Cây Vông một thắng cảnh hữu tình chạy dọc dài 2 km hai bên tỉnh lộ 8, tả ngạn sông cái với khu Giáo đường khang trang ở trung tâm.
• Thành lập: 11.06.1730
• Bổn mạng: Giuse thợ
• Ðịa chỉ hiện nay: Diên Sơn, Diên Khánh – Khánh Hòa
Nằm trong phạm vi hai xã Diên Sơn và Diên Thuỷ, cực bắc Huyện hành chánh Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa Giáo xứ Cây Vông một thắng cảnh hữu tình chạy dọc dài 2 km hai bên tỉnh lộ 8, tả ngạn sông cái với khu Giáo đường khang trang ở trung tâm. Ðàng trưóc thánh đường, xa xa con sông cái hiền hòa uốn khúc tiếp cận đồng lúa Ðồng Hiền tươi tốt hai mùa. Ðàng sau, bát ngát cánh đồng Ðại Ðiền trù phú bao quanh va dãy Ðại An, Hòn Ngang hùng vĩ chạy dài từ đông sang tây che chở.
< Nhà thờ Cây Vông cũ.
Ðông giáp Giáo xứ Ðại Ðiền (từ Cầu Gỗ đến Quán Ðôi đường cái đá, và từ trường học Phú Ðiền đến nhà thờ họ Ngô, ranh giới Diên Ðiền và Diên Sơn). Tây giáp Giáo xứ Ðồng Dài (Hòn Ngang). Nam giáp Giáo xứ Hà Dừa (Sông Cái). Bắc giáp Núi Am Chúa (Diên Sơn 1, Ðại Ðiền Nam). Gồm Xã Diên Thuỷ, Diên Sơn 2, và một phần Thị Trấn Diên Khánh.
Lịch sử cách đây gần 300 năm, cho thấy giáo xứ Cây Vông là một trong các giáo xứ kỳ cựu nhất của vùng Nha Trang, được hình thành cùng một thời gian với Hà Dừa, Bình Cang. mà thánh đường và khu vườn của Nhà Gai là do Cố Giám Mục Tilopolis và các Linh mục thừa sai người Pháp cùng với sự đóng góp của giáo dân đã mua từ những năm 1730.
Nhà Gai, Hà Gai, Nà Gai hay Lò Gai nằm trên khu đất tục danh xứ Tiên Hương, thuộc thôn Phú cốt trên bờ tả ngạn sông cái, xây mặt vào núi Hòn Ngang. Di tích nền thánh đường, nghĩa địa hiện nay vẫn còn và gần đó mấy sào đất thổ là tài sản của giáo xứ.Lúc bấy giờ chưa có cha sở.
Năm Tự Ðức ngũ niên 1851, sắc chỉ triều đình cấm đạo, giáo dân chạy tản mác. Nhà thờ bị đốt phá bình địa. Thời gian sau, tình hình lắng dịu, giáo dân tề tựu về xây cất lại thánh đường ở thôn Ðại Ðiền Tây, trên vùng đất của Ông Nguyễn Nay, bấy giờ do Cha Lão làm cha sở tiên khởi.
Năm Văn Thân nổi lên chống Pháp, Ðồng thời bách hại Công giáo, trong khi cố Minh Ganier lãnh đạo giáo dân Hà Dừa di tản vào Sài Gòn thì giáo dân Cây Vông một số lánh nạn ngoài Hòn Khói (Ninh Hoà ) Tu Bông (Vạn Giã) hoặc đón tàu đi Qui nhơn, một số còn lại theo Cha Lão lẫn trốn trên núi Hòn Ngang hay chạy trốn trong nhà người lương ở thôn Ðại Ðiền Nam ngày đêm núp trong mái (loại lu lớn) dùng chứa đường, bỏ trống. Thánh đường lại bị đốt phá. Việc tiếp tế cho cha Lão và các chức việc trên núi thật gây go, nguy hiểm. Lúc đầu giáo dân còn đưa cơm trong ống tre, sau hết gạo, phải lấy trấu rang nghiền nát bỏ vào ống tre đưa lên cho Ngài nấu cháo ăn với lá cây và thịt rừng.
Khi tạm yên, cha con tề tựu nhau về chung nhau xây cất thánh đường mới trên khu đất hiện nay. Cha Lão đã qua đời và được an táng trong thánh đường. Cũng từ đó, Cây Vông không còn cha sở nữa, giáo dân phải đi dự lễ khi ở Bình Cang, khi ở Hà Dừa, (đời Cố Ngoan và cố Bình) hoạ hoằn mới có một Cha về dâng Thánh lễ chúa Nhật một lần. Mãi đến năm 1910, cố Quới được thuyên chuyển về hà Dừa, luân phiên một tuần ở Hà Dừa, một tuần ở Cây Vông, giáo dân mới được thường xuyên dự lễ. Cố Quới coi sóc Hà Dừa, kiêm cả Cây vông và Ðại Ðiền. Ngài qua đời năm 1924.
Trận cuồng phong năm nhâm tý 1912 tàn phá khốc liệt Khánh Hòa đã làm sập đổ ngôi thánh đường. Ðến năm 1913, cố Quới cho xây cất lại đồ sộ hơn, cột kèo, bàn thờ được chạm trổ tinh vi, tồn tại đến ngày nay.
Bão năm nhâm tuất 1922 làm hư tiền đưòng và mãi đến 1939, Cha Stêphanô Phan văn Bính, với sụ cộng tác đắc lực của chức việc và giáo dân, nhất là ông câu nhì Nguyễn Ðiểu (vẽ kiểu và đôn đốc) đã trùng tu lại tiền đường, có tháp chuông kiên cố, song phải đợi đến năm 1952, tháp chuông mới có chuông, do ông Antôn Nguyễn Lâu (đệ tử cố Quới) dâng cúng.
Năm 1938, Cố Quý (P.Tourte) đến làm cha sở trong vòng 6 tháng. Chính Ngài tự tay cưa đục, sửa chữa lại bàn thờ gọn gàng hơn.
Theo Nha Trang Today
Du lịch, GO!
• Thành lập: 11.06.1730
• Bổn mạng: Giuse thợ
• Ðịa chỉ hiện nay: Diên Sơn, Diên Khánh – Khánh Hòa
Nằm trong phạm vi hai xã Diên Sơn và Diên Thuỷ, cực bắc Huyện hành chánh Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa Giáo xứ Cây Vông một thắng cảnh hữu tình chạy dọc dài 2 km hai bên tỉnh lộ 8, tả ngạn sông cái với khu Giáo đường khang trang ở trung tâm. Ðàng trưóc thánh đường, xa xa con sông cái hiền hòa uốn khúc tiếp cận đồng lúa Ðồng Hiền tươi tốt hai mùa. Ðàng sau, bát ngát cánh đồng Ðại Ðiền trù phú bao quanh va dãy Ðại An, Hòn Ngang hùng vĩ chạy dài từ đông sang tây che chở.
< Nhà thờ Cây Vông cũ.
Ðông giáp Giáo xứ Ðại Ðiền (từ Cầu Gỗ đến Quán Ðôi đường cái đá, và từ trường học Phú Ðiền đến nhà thờ họ Ngô, ranh giới Diên Ðiền và Diên Sơn). Tây giáp Giáo xứ Ðồng Dài (Hòn Ngang). Nam giáp Giáo xứ Hà Dừa (Sông Cái). Bắc giáp Núi Am Chúa (Diên Sơn 1, Ðại Ðiền Nam). Gồm Xã Diên Thuỷ, Diên Sơn 2, và một phần Thị Trấn Diên Khánh.
Lịch sử cách đây gần 300 năm, cho thấy giáo xứ Cây Vông là một trong các giáo xứ kỳ cựu nhất của vùng Nha Trang, được hình thành cùng một thời gian với Hà Dừa, Bình Cang. mà thánh đường và khu vườn của Nhà Gai là do Cố Giám Mục Tilopolis và các Linh mục thừa sai người Pháp cùng với sự đóng góp của giáo dân đã mua từ những năm 1730.
Nhà Gai, Hà Gai, Nà Gai hay Lò Gai nằm trên khu đất tục danh xứ Tiên Hương, thuộc thôn Phú cốt trên bờ tả ngạn sông cái, xây mặt vào núi Hòn Ngang. Di tích nền thánh đường, nghĩa địa hiện nay vẫn còn và gần đó mấy sào đất thổ là tài sản của giáo xứ.Lúc bấy giờ chưa có cha sở.Năm Tự Ðức ngũ niên 1851, sắc chỉ triều đình cấm đạo, giáo dân chạy tản mác. Nhà thờ bị đốt phá bình địa. Thời gian sau, tình hình lắng dịu, giáo dân tề tựu về xây cất lại thánh đường ở thôn Ðại Ðiền Tây, trên vùng đất của Ông Nguyễn Nay, bấy giờ do Cha Lão làm cha sở tiên khởi.
Năm Văn Thân nổi lên chống Pháp, Ðồng thời bách hại Công giáo, trong khi cố Minh Ganier lãnh đạo giáo dân Hà Dừa di tản vào Sài Gòn thì giáo dân Cây Vông một số lánh nạn ngoài Hòn Khói (Ninh Hoà ) Tu Bông (Vạn Giã) hoặc đón tàu đi Qui nhơn, một số còn lại theo Cha Lão lẫn trốn trên núi Hòn Ngang hay chạy trốn trong nhà người lương ở thôn Ðại Ðiền Nam ngày đêm núp trong mái (loại lu lớn) dùng chứa đường, bỏ trống. Thánh đường lại bị đốt phá. Việc tiếp tế cho cha Lão và các chức việc trên núi thật gây go, nguy hiểm. Lúc đầu giáo dân còn đưa cơm trong ống tre, sau hết gạo, phải lấy trấu rang nghiền nát bỏ vào ống tre đưa lên cho Ngài nấu cháo ăn với lá cây và thịt rừng.
Khi tạm yên, cha con tề tựu nhau về chung nhau xây cất thánh đường mới trên khu đất hiện nay. Cha Lão đã qua đời và được an táng trong thánh đường. Cũng từ đó, Cây Vông không còn cha sở nữa, giáo dân phải đi dự lễ khi ở Bình Cang, khi ở Hà Dừa, (đời Cố Ngoan và cố Bình) hoạ hoằn mới có một Cha về dâng Thánh lễ chúa Nhật một lần. Mãi đến năm 1910, cố Quới được thuyên chuyển về hà Dừa, luân phiên một tuần ở Hà Dừa, một tuần ở Cây Vông, giáo dân mới được thường xuyên dự lễ. Cố Quới coi sóc Hà Dừa, kiêm cả Cây vông và Ðại Ðiền. Ngài qua đời năm 1924.Trận cuồng phong năm nhâm tý 1912 tàn phá khốc liệt Khánh Hòa đã làm sập đổ ngôi thánh đường. Ðến năm 1913, cố Quới cho xây cất lại đồ sộ hơn, cột kèo, bàn thờ được chạm trổ tinh vi, tồn tại đến ngày nay.
Bão năm nhâm tuất 1922 làm hư tiền đưòng và mãi đến 1939, Cha Stêphanô Phan văn Bính, với sụ cộng tác đắc lực của chức việc và giáo dân, nhất là ông câu nhì Nguyễn Ðiểu (vẽ kiểu và đôn đốc) đã trùng tu lại tiền đường, có tháp chuông kiên cố, song phải đợi đến năm 1952, tháp chuông mới có chuông, do ông Antôn Nguyễn Lâu (đệ tử cố Quới) dâng cúng.
Năm 1938, Cố Quý (P.Tourte) đến làm cha sở trong vòng 6 tháng. Chính Ngài tự tay cưa đục, sửa chữa lại bàn thờ gọn gàng hơn.
Theo Nha Trang Today
Du lịch, GO!
Những nẻo đường giáp biên
(DVO) - Những chuyến du lịch đi trên những con đường sâu bên trong nội địa sẽ không thấy những điểm giao này, nhưng nếu được đi vào các bản làng giáp biên thì có thể gặp những con đường uốn cong rất đẹp và nên thơ.
Hà Giang là tỉnh ở cực Bắc Việt Nam có biên giới giáp với 2 tỉnh Vân Nam và Quảng Tây của Trung quốc. Hà Giang cũng có nhiều tuyến đi sang Trung quốc qua những cửa khẩu chính và những cửa khẩu phụ. Ngoài ra cũng có những con đường uốn lượn sát biên giới, khi gặp 1 con đường như vậy thì có lẽ sẽ có thêm những cửa khẩu tiểu ngạch cho dân sinh sống ở bản làng quanh đó qua lại. (Trong ảnh: một đoạn đường ở gần Lũng Cú).
Chiếc xe chở hàng màu đỏ phía xa kia là ở bên Trung Quốc.
Trên đường đi Sơn Vĩ có thể gặp điểm giao này, con đường nhánh rẽ bên trái là đường của Việt Nam, còn con đường vòng theo núi bên phải là đường của Trung Quốc.
Trên cao nhìn xuống điểm giao này, chiếc xe khách và con đường bên phải là của Trung Quốc.
Một cột mốc phân định biên giới Việt Nam - Trung Quốc.
Theo Đồng Văn/nikonvn
Du lịch, GO!
Hà Giang là tỉnh ở cực Bắc Việt Nam có biên giới giáp với 2 tỉnh Vân Nam và Quảng Tây của Trung quốc. Hà Giang cũng có nhiều tuyến đi sang Trung quốc qua những cửa khẩu chính và những cửa khẩu phụ. Ngoài ra cũng có những con đường uốn lượn sát biên giới, khi gặp 1 con đường như vậy thì có lẽ sẽ có thêm những cửa khẩu tiểu ngạch cho dân sinh sống ở bản làng quanh đó qua lại. (Trong ảnh: một đoạn đường ở gần Lũng Cú).
Chiếc xe chở hàng màu đỏ phía xa kia là ở bên Trung Quốc.
Trên đường đi Sơn Vĩ có thể gặp điểm giao này, con đường nhánh rẽ bên trái là đường của Việt Nam, còn con đường vòng theo núi bên phải là đường của Trung Quốc.
Trên cao nhìn xuống điểm giao này, chiếc xe khách và con đường bên phải là của Trung Quốc.
Một cột mốc phân định biên giới Việt Nam - Trung Quốc.
Theo Đồng Văn/nikonvn
Du lịch, GO!
Thursday, November 6, 2014
Ga Nha Trang
Ga Nha Trang tọa lạc ở khu trung tâm thành phố tại số 17 Thái Nguyên, thành phố Nha Trang, Khánh Hòa. Cho đến ngày nay, ga Nha Trang vẫn còn giữ được nét kiến trúc độc đáo thời Pháp.
Ga Nha Trang được khánh thành ngày 2/9/1936, vào thời đó trước ga có một vườn hoa rộng, hai bên vườn hoa là hai khách sạn - hai toà nhà giống hệt nhau về vẻ ngoài và cùng kiểu dáng kiến trúc, cùng màu sắc với nhà ga. Với sự hài hoà, khoáng đạt, độc đáo của cảnh quan kiến trúc, ga Nha Trang từng được coi là ga đẹp thứ nhì Đông Dương, chỉ sau ga Đà Lạt.
Ngày nay ga Nha Trang là một trong những ga lớn trên tuyến đường sắt Bắc Nam của Việt Nam, tất cả các tuyến tàu lửa Thống Nhất đều dừng ở đây.
Dulichgo
Ngoài các tàu Thống Nhất, còn có các chuyến tàu SNT1-2, SNT3-4, SQN1-2 và chuyến tàu 5 sao đầu tiên chạy tuyến Sài Gòn - Nha Trang. Ngoài ga Nha Trang thành phố còn có 1 ga phụ là Ga Lương Sơn, nhưng ga này ít khi đón khách
Phía trước nhà ga Nha Trang có tấm biển di tích lịch sử nhắc nhớ ngày Nha Trang đứng lên chống thực dân Pháp trở lại xâm lược, 23/10/1945. Vườn hoa trước ga nay là công viên Võ Văn Ký, mang tên người chỉ huy trận đánh quân Pháp ở ga Nha Trang đêm 23/10/1945 và hy sinh anh dũng tại đây.
Nha Trang nằm trên tuyến đường sắt Bắc Nam thuận lợi cho việc liên kết với các tỉnh còn lại của Việt Nam.
Theo Diên Khánh online
Du lịch, GO!
Ga Nha Trang được khánh thành ngày 2/9/1936, vào thời đó trước ga có một vườn hoa rộng, hai bên vườn hoa là hai khách sạn - hai toà nhà giống hệt nhau về vẻ ngoài và cùng kiểu dáng kiến trúc, cùng màu sắc với nhà ga. Với sự hài hoà, khoáng đạt, độc đáo của cảnh quan kiến trúc, ga Nha Trang từng được coi là ga đẹp thứ nhì Đông Dương, chỉ sau ga Đà Lạt.
Ngày nay ga Nha Trang là một trong những ga lớn trên tuyến đường sắt Bắc Nam của Việt Nam, tất cả các tuyến tàu lửa Thống Nhất đều dừng ở đây.
Dulichgo
Ngoài các tàu Thống Nhất, còn có các chuyến tàu SNT1-2, SNT3-4, SQN1-2 và chuyến tàu 5 sao đầu tiên chạy tuyến Sài Gòn - Nha Trang. Ngoài ga Nha Trang thành phố còn có 1 ga phụ là Ga Lương Sơn, nhưng ga này ít khi đón khách
Phía trước nhà ga Nha Trang có tấm biển di tích lịch sử nhắc nhớ ngày Nha Trang đứng lên chống thực dân Pháp trở lại xâm lược, 23/10/1945. Vườn hoa trước ga nay là công viên Võ Văn Ký, mang tên người chỉ huy trận đánh quân Pháp ở ga Nha Trang đêm 23/10/1945 và hy sinh anh dũng tại đây.
Nha Trang nằm trên tuyến đường sắt Bắc Nam thuận lợi cho việc liên kết với các tỉnh còn lại của Việt Nam.
Theo Diên Khánh online
Du lịch, GO!
Một vòng SG - Bình Dương nhân ngày lễ Các Thánh (P1)
Ngày 1 và 2 tháng 11 hằng năm đối với tín hữu Công Giáo là ngày Lễ trọng, những ngày đó đi viếng mộ, hài cốt là điều cần phải làm tựa như là các ngày Thanh Minh theo truyền thống của dân ta.
< Đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa buổi sáng với chùa Vĩnh Nghiêm.
Vì thế, như mọi năm mình: thắng cương con ngựa sắt rồi trực chỉ Bình Dương. Điểm đến là Công Viên Nghĩa Trang Bình Dương nơi mộ cha mình nằm tại đó.
Thông thường để đi Bình Dương đơn giản nhất là QL13, từ Bến xe Miền Đông ta cứ theo con lộ 13 qua vài trạm thu phí nếu vi vu bằng xế hộp, là đến Bình Dương khỏi suy nghĩ chi cho mệt.
< Tiếp tục là ngã tư Phú Nhuận ,rồi Nguyễn Thái Sơn, ngã sáu Gò Vấp.
Thế nhưng đối với nhiều dân cố cựu SG thì có thể đi bằng con đường khác, con đường xưa từ thời Pháp thuộc là con đường dọc theo đường sắt đi Lộc Ninh (đường sắt này đã không còn từ tám đời nay rồi). Đường này từ Gò Vấp đến Ngã tư ga (ga xe lửa ngày xưa) rồi Thạnh Lộc, cầu Phú Long (cầu sắt xe lửa) qua Lái Thiêu sẽ đến Thủ Dầu Một thủ phủ của Bình Dương. Con đường này là đường chính lên Bình Dương truóc khi có QL 13 như hiện nay (nay là lộ trình Nguyễn Oanh - Hà Huy Giáp - cầu Phú Long).
< Nhà thờ Hạnh Thông Tây.
Tuy nhiên mình sẽ đi đường khác nữa, đây cũng là huyết mạch lên Bình Dương ngày trước chiến tranh. Khi chiến tranh thì con đường này không sử dụng được nữa. Sau 75 thì được phục hồi và bây giờ thì rất nhiều người đi đường này nhất là các xế hộp vì chỉ phải đóng phí cầu đường có 1 lần.
< Đối diện là chợ Hạnh Thông Tây, đây là chợ mới xây còn chợ cũ nằm ở góc đường QT -Thống Nhất , cách đây vài trăm mét.
Bắt đầu vậy, sáng sớm (lại sáng sớm) bọn mình (lúc nào cũng 2 mình nhé) lên đường vì nhà ở Q 3 nên cứ Nam Kỳ Khởi Nghĩa - Nguyễn văn Trổi mà tới.
< Ngã ba Đông Thạnh - huyện Hóc Môn, rẽ trái là về Hóc Môn, rẽ phải là cầu Rạch Tra qua Bình Mỹ huyện Củ Chi.
Cầu Rạch Tra, một cây cầu quan trọng của tuyến đường từ Hóc Môn sang Bình Mỹ thuộc huyện Củ Chi, từ đó ta qua cầu Phú Cường sang Bình Dương. Những năm đầu kháng chiến chống Pháp, để ngăn quân Pháp từ SG Hóc Môn lấn ra vùng kháng chiến để sang Bình Dương. Lực lượng Vệ Quốc lúc đó do ông Tô Ký đứng ra xin phép nhân dân cho phá sập cầu với lời hứa sau khi kháng chiến thành công sẽ xây dựng lại cầu mới cho bà con.
< Về cầu Rạch Tra, bên phải là bãi rác Đông Thạnh nay đã đóng cửa vì quá đầy.
Thế rồi, gần 20 năm sau, ông Tô Ký lúc này là Thiếu tướng mới trở lại quê hương. Cây cầu thì đã gẫy từ lâu, chính quyền SG lúc đó cũng không dựng lại vì bên phía Bình Mỹ lúc bấy giờ là vùng "xôi đậu" phe mình phe địch cứ xen lẫn vào nhau.
< Cầu Rạch Tra mới, phía đầu cầu là công viên cây xanh.
Nhân dân thì nhớ chuyện xưa nên nhắc nhở ngụ ý TT Tô Ký chỉ có danh thôi chứ quyền hạn không có gì. Lời hứa năm xưa làm ông đau đầu, vận động mãi sau cùng cũng có được cây cầu trả nợ nhưng kinh phí hạn hẹp nên cầu nhỏ xíu chỉ có 1 làn xe 4 bánh: thôi thì có còn hơn không.
Mấy năm gần đây nhận thấy tầm quan trọng của đường này, UBND thành phố đã quyết đỉnh đầu tư con đường nên đã xây dựng cầu Rạch Tra mới to đẹp như hiện nay và đang thi công cầu đường HL9 này .
< Cầu bắc qua kênh Xáng ,chi lưu của sông Sàigòn.
Mình biết rõ chuyện này vì đây là quê Ngoại của mình và ông Tô ký cũng là bà con bên Ngoại mình.
Còn tiếp
Phần 1 - Phần 2 - Phần 3 - Phần 4 - Phần 5 - Phần 6
Phương Nguyên
Du lịch, GO!
Những bài cùng tác giả:
- Sau 20 năm, chúng tôi tái ngộ Hà Tiên.
- Đà Nẵng, một chuyến đi.
- 6 ngày rong ruổi với đoàn hành hương La Vang.
- Sa đéc mùa không có hoa.
< Đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa buổi sáng với chùa Vĩnh Nghiêm.
Vì thế, như mọi năm mình: thắng cương con ngựa sắt rồi trực chỉ Bình Dương. Điểm đến là Công Viên Nghĩa Trang Bình Dương nơi mộ cha mình nằm tại đó.
Thông thường để đi Bình Dương đơn giản nhất là QL13, từ Bến xe Miền Đông ta cứ theo con lộ 13 qua vài trạm thu phí nếu vi vu bằng xế hộp, là đến Bình Dương khỏi suy nghĩ chi cho mệt.
< Tiếp tục là ngã tư Phú Nhuận ,rồi Nguyễn Thái Sơn, ngã sáu Gò Vấp.
Thế nhưng đối với nhiều dân cố cựu SG thì có thể đi bằng con đường khác, con đường xưa từ thời Pháp thuộc là con đường dọc theo đường sắt đi Lộc Ninh (đường sắt này đã không còn từ tám đời nay rồi). Đường này từ Gò Vấp đến Ngã tư ga (ga xe lửa ngày xưa) rồi Thạnh Lộc, cầu Phú Long (cầu sắt xe lửa) qua Lái Thiêu sẽ đến Thủ Dầu Một thủ phủ của Bình Dương. Con đường này là đường chính lên Bình Dương truóc khi có QL 13 như hiện nay (nay là lộ trình Nguyễn Oanh - Hà Huy Giáp - cầu Phú Long).
< Nhà thờ Hạnh Thông Tây.
Tuy nhiên mình sẽ đi đường khác nữa, đây cũng là huyết mạch lên Bình Dương ngày trước chiến tranh. Khi chiến tranh thì con đường này không sử dụng được nữa. Sau 75 thì được phục hồi và bây giờ thì rất nhiều người đi đường này nhất là các xế hộp vì chỉ phải đóng phí cầu đường có 1 lần.
< Đối diện là chợ Hạnh Thông Tây, đây là chợ mới xây còn chợ cũ nằm ở góc đường QT -Thống Nhất , cách đây vài trăm mét.
Bắt đầu vậy, sáng sớm (lại sáng sớm) bọn mình (lúc nào cũng 2 mình nhé) lên đường vì nhà ở Q 3 nên cứ Nam Kỳ Khởi Nghĩa - Nguyễn văn Trổi mà tới.
< Ngã ba Đông Thạnh - huyện Hóc Môn, rẽ trái là về Hóc Môn, rẽ phải là cầu Rạch Tra qua Bình Mỹ huyện Củ Chi.
Cầu Rạch Tra, một cây cầu quan trọng của tuyến đường từ Hóc Môn sang Bình Mỹ thuộc huyện Củ Chi, từ đó ta qua cầu Phú Cường sang Bình Dương. Những năm đầu kháng chiến chống Pháp, để ngăn quân Pháp từ SG Hóc Môn lấn ra vùng kháng chiến để sang Bình Dương. Lực lượng Vệ Quốc lúc đó do ông Tô Ký đứng ra xin phép nhân dân cho phá sập cầu với lời hứa sau khi kháng chiến thành công sẽ xây dựng lại cầu mới cho bà con.
< Về cầu Rạch Tra, bên phải là bãi rác Đông Thạnh nay đã đóng cửa vì quá đầy.
Thế rồi, gần 20 năm sau, ông Tô Ký lúc này là Thiếu tướng mới trở lại quê hương. Cây cầu thì đã gẫy từ lâu, chính quyền SG lúc đó cũng không dựng lại vì bên phía Bình Mỹ lúc bấy giờ là vùng "xôi đậu" phe mình phe địch cứ xen lẫn vào nhau.
< Cầu Rạch Tra mới, phía đầu cầu là công viên cây xanh.
Nhân dân thì nhớ chuyện xưa nên nhắc nhở ngụ ý TT Tô Ký chỉ có danh thôi chứ quyền hạn không có gì. Lời hứa năm xưa làm ông đau đầu, vận động mãi sau cùng cũng có được cây cầu trả nợ nhưng kinh phí hạn hẹp nên cầu nhỏ xíu chỉ có 1 làn xe 4 bánh: thôi thì có còn hơn không.
Mấy năm gần đây nhận thấy tầm quan trọng của đường này, UBND thành phố đã quyết đỉnh đầu tư con đường nên đã xây dựng cầu Rạch Tra mới to đẹp như hiện nay và đang thi công cầu đường HL9 này .
< Cầu bắc qua kênh Xáng ,chi lưu của sông Sàigòn.
Mình biết rõ chuyện này vì đây là quê Ngoại của mình và ông Tô ký cũng là bà con bên Ngoại mình.
Còn tiếp
Phần 1 - Phần 2 - Phần 3 - Phần 4 - Phần 5 - Phần 6
Phương Nguyên
Du lịch, GO!
Những bài cùng tác giả:
- Sau 20 năm, chúng tôi tái ngộ Hà Tiên.
- Đà Nẵng, một chuyến đi.
- 6 ngày rong ruổi với đoàn hành hương La Vang.
- Sa đéc mùa không có hoa.
Lạnh trời tìm vị bánh áp chao
(VNE) - Đến với Cao Bằng ngày lạnh và thưởng thức món bánh áp chao nóng hổi, hương thơm quyến rũ cùng vị đậm đà, béo bùi của thịt vịt lẫn trong vị nếp dẻo quạnh là cả một sự khám phá thú vị.
Mùa đông ở Cao Bằng có một món ăn rất đặc biệt, được bày bán nhiều trong các quán nhỏ hoặc vỉa hè. Bánh có vẻ bề ngoài khá giống bánh rán nhưng phần nhân được làm từ thịt vịt chứ không phải thịt lợn băm, mộc nhĩ hay đỗ xanh như bánh rán bình thường. Người Cao Bằng gọi đó là bánh áp chao, hay còn gọi là bánh vịt chao.
Nguyên liệu nào để làm nên bánh áp chao không quá cầu kì, chỉ bao gồm bột gạo nếp, bột gạo tẻ và nhân thịt vịt nhưng đó lại là một nét ẩm thực đặc trưng rất riêng của vùng Đông Bắc.
Vỏ bánh là hỗn hợp của gạo nếp, gạo tẻ và đỗ tương. Loại gạo được chọn là loại gạo mới thu hoạch, hạt mẩy, được trộn lẫn cùng nhau, ngâm kỹ trong khoảng nửa ngày cho gạo nở mềm mới đem xay thành bột. Người ta cũng chọn đỗ tương Quảng Uyên hạt vừa phải, lòng vàng trộn cùng bột gạo để tạo ra hỗn hợp bột đặc sánh, đảm bảo độ mềm dẻo và thơm ngon.
Sau khi đã có đầy đủ nguyên liệu, người làm lấy một lượng bột vừa đủ, nhồi nhân vịt vào giữa, ép bánh lại rồi thả từ từ vào chảo dầu sôi, chao qua lại tới khi bánh chín vàng rộm hai mặt, tỏa hương thơm quyến rũ, vớt ra để ráo mỡ là có thể đem ra dùng nóng. Dulichgo
Nếu lần đầu thưởng thức, không ít người phải ngỡ ngàng vì độ ngon lạ, đặc biệt, khó quên của chiếc bánh đậm hồn quê này. Ở thành phố Cao Bằng mùa lạnh, bạn có thể dừng chân ở bất kỳ một quán ven đường nào để thưởng thức vài đĩa áp chao nóng hổi, thơm ngào ngạt để quên nhanh cái lạnh của mùa với giá chỉ vài nghìn đồng một chiếc.
Món bánh chao thường được ưa chuộng vào mùa lạnh, người Cao Bằng còn gọi những tháng cuối năm từ 11 đến tháng 2 hằng năm là "mùa bánh áp chao" bởi cứ vào độ này là hương thơm của bánh áp chao lại lan tỏa khắp nơi.
Với riêng người dân Cao Bằng, bánh áp chao từ lâu đã là món ăn chơi, ăn vặt gắn liền với quê hương bình dị, để rồi, những người con xa quê khi vô tình bắt gặp cái lạnh đầu mùa nơi xứ người lại nôn nao nhớ về.
Theo Lê Thương (Vnexpress)
Du lịch GO!
Mùa đông ở Cao Bằng có một món ăn rất đặc biệt, được bày bán nhiều trong các quán nhỏ hoặc vỉa hè. Bánh có vẻ bề ngoài khá giống bánh rán nhưng phần nhân được làm từ thịt vịt chứ không phải thịt lợn băm, mộc nhĩ hay đỗ xanh như bánh rán bình thường. Người Cao Bằng gọi đó là bánh áp chao, hay còn gọi là bánh vịt chao.
Nguyên liệu nào để làm nên bánh áp chao không quá cầu kì, chỉ bao gồm bột gạo nếp, bột gạo tẻ và nhân thịt vịt nhưng đó lại là một nét ẩm thực đặc trưng rất riêng của vùng Đông Bắc.
Vỏ bánh là hỗn hợp của gạo nếp, gạo tẻ và đỗ tương. Loại gạo được chọn là loại gạo mới thu hoạch, hạt mẩy, được trộn lẫn cùng nhau, ngâm kỹ trong khoảng nửa ngày cho gạo nở mềm mới đem xay thành bột. Người ta cũng chọn đỗ tương Quảng Uyên hạt vừa phải, lòng vàng trộn cùng bột gạo để tạo ra hỗn hợp bột đặc sánh, đảm bảo độ mềm dẻo và thơm ngon.
Sau khi đã có đầy đủ nguyên liệu, người làm lấy một lượng bột vừa đủ, nhồi nhân vịt vào giữa, ép bánh lại rồi thả từ từ vào chảo dầu sôi, chao qua lại tới khi bánh chín vàng rộm hai mặt, tỏa hương thơm quyến rũ, vớt ra để ráo mỡ là có thể đem ra dùng nóng. Dulichgo
Nếu lần đầu thưởng thức, không ít người phải ngỡ ngàng vì độ ngon lạ, đặc biệt, khó quên của chiếc bánh đậm hồn quê này. Ở thành phố Cao Bằng mùa lạnh, bạn có thể dừng chân ở bất kỳ một quán ven đường nào để thưởng thức vài đĩa áp chao nóng hổi, thơm ngào ngạt để quên nhanh cái lạnh của mùa với giá chỉ vài nghìn đồng một chiếc.
Món bánh chao thường được ưa chuộng vào mùa lạnh, người Cao Bằng còn gọi những tháng cuối năm từ 11 đến tháng 2 hằng năm là "mùa bánh áp chao" bởi cứ vào độ này là hương thơm của bánh áp chao lại lan tỏa khắp nơi.
Với riêng người dân Cao Bằng, bánh áp chao từ lâu đã là món ăn chơi, ăn vặt gắn liền với quê hương bình dị, để rồi, những người con xa quê khi vô tình bắt gặp cái lạnh đầu mùa nơi xứ người lại nôn nao nhớ về.
Theo Lê Thương (Vnexpress)
Du lịch GO!
Chùa trên núi Bích Động
(TBKTSG) - Ninh Bình quyến rũ du khách dừng chân bởi có nhiều danh lam thắng cảnh, trong đó có ba ngôi chùa cổ nằm trên núi Bích Động, được xếp hàng thứ hai sau Hương Tích với mệnh danh "Nam thiên đệ nhị động".
Nằm trong cụm du lịch Tam Cốc - Bích Động thuộc xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình. So với Tam Cốc gần đó thì ngày thường Bích Động ít khách hơn, hàng quán bán bên ngoài phục vụ du khách cũng ít hơn. Nhưng đã đến Ninh Bình mà không ghé đến Bích Động thực là phí một chuyến đi.
Lúc đầu, đây chỉ là một ngôi chùa nhỏ gọi là chùa Đông (vì xoay về hướng Đông) tức là chùa Thượng bây giờ; đến đời vua Lê Hiển Tông (1740) chùa đổi thành Bạch Ngọc Thạch Sơn Đồng. Tên Bích Động do vua Tự Đức đặt vào thế kỷ XIX.
< Chùa Trung.
Chúng tôi nao nức viếng chùa Bích Động như mỗi lần có dịp lần đầu tiên đặt chân đến một danh thắng. Có một điều khác với miền Trung, đến Bích Động, đi từ chùa Hạ đến tận chùa Thượng, chúng tôi không hề thấy bóng dáng một nhà sư hoặc ni cô nào mà chỉ toàn gặp những người mời chào đi thuyền dạo chơi trên sông Hoàng Long. Sông Hoàng Long là con sông chảy bao quanh Bích Động với hoa sen thả đầy khiến cho Bích Động như luôn đẫm trong hương sen vào mùa hoa nở. Dulichgo
Bên con đường vào thế giới tĩnh mặc của ngôi chùa có một ngọn núi đá vôi chồm ra, tạo một khỏang trống bên dưới với cây xanh phủ tỏa. Dưới bóng mát phủ lối đi là dăm người bán những mặt hàng lưu niệm lặng lẽ chờ đợi khách dừng chân. Sự rộn ràng thật sự khi đi qua chiếc cầu xi măng nhỏ, lòng lâng lâng khi ngắm nhìn bao quanh là hoa sen lộng lẫy. Bước chân qua vòm cổng là vào không gian của Bích Động.
< Đường vào Bích Động.
Và câu chuyện kể gắn liền với Bích Động - gần như mọi người quanh vùng đều thuộc làu - là hai vị sư tên Trí Kiên và Trí Khê quê ở Nam Định trong hành trình thuyết pháp, truyền bá đạo Phật, năm 1705 dừng chân ở núi Bích Động khi ấy mới chỉ có một ngôi chùa nhỏ, đã quyên góp thập phương để xây dựng ba ngôi chùa dựa lưng vào vách núi, giữa thiên nhiên đất trời giao hòa đẹp lộng lẫy như hiện nay.
Bích Động cheo leo theo những bậc thang. Với kiến trúc theo kiểu chữ “đinh”, chùa Hạ thanh thoát mái ngói cong. Nơi đây có một cây mít được gắn tấm bảng đặt tên là “Cây mít thế kỷ”; dù trông rất “già”, gốc lớn nhưng vẫn đeo rất nhiều trái thành chùm, e chuyện đặt tên chỉ nhằm lôi kéo thói tò mò của du khách chứ cây này chưa thể đến trăm tuổi được. Có một khu vực riêng là mộ tháp của các vị hòa thượng từng trụ trì ở chùa. Núi ở đây là đá vôi, từ nơi này ngước nhìn lên núi cao, cảnh quan vách núi với những nhũ đá nhô ra, lõm vào thành những hang nhỏ tạo cho du khách cảm giác kỳ lạ.
< Chùa Hạ.
Ghé chùa Hạ trong thóang chốc, lại bước chân lên 120 bậc cấp theo hình chữ chi. Những bậc cấp này cũng đã có hàng mấy trăm năm trước, đục vào núi mà thành. Chùa Trung nằm một nửa bên ngoài, một nửa nằm vào núi, cũng màu đất nâu sậm. Trước chùa có lư hương lớn đúc bằng xi măng, có sẵn nhang để khách hành hương thắp lên tỏ lòng kính cẩn. Từ chùa Trung, mắt có thể ngắm nhìn không gian thênh thang bên dưới.
Nhưng hấp dẫn nhất là lúc bước chân vào động Tối. Bên cạnh chùa Trung có một miếu nhỏ, từ đây có một con đường nhỏ bên cạnh vách núi phẳng. Vừa ra ra khỏi vách núi là bước chân vào một vùng tối thâm u, được biết phải bước lên 21 bậc cấp. Đoàn đi trước chuẩn bị đèn pin của người dẫn đường nên vượt qua con đường lên động Tối dễ dàng. Còn tôi đi sau, bước chân dò dẫm trong bóng đêm, lò mò dẫm từng bậc cấp, dẫu có bật đèn từ chiếc điện thoại di động vẫn không đủ ánh sáng để vượt qua đoạn đường kỳ thú này. Bậc cấp lên cao lần, cho đến khi thấy ánh sáng hắt vào mới biết là tới đích.
< Đường lên chùa Trung.
Thì ra động Tối nằm trọn trong lòng núi. Trong động Tối này có một chiếc chuông cổ, có từ năm Đinh Hợi (1707). Nhiều khách đánh chuông để cầu nguyện với niềm tin rằng làm thế sẽ cầu được điều tốt lành. Trong động có những nhũ đá mà trí tưởng tượng có cảm giác như các ông tiên, bà tiên ở đó. Ngoài ra tại động Tối còn có tượng Phật bằng đồng đen nằm uy nghi nhìn ra dãy núi phía trước.
Ra khỏi động Tối, du khách thấy mình đang đứng bên sườn núi cao. Ngắm nhìn bên dưới, vách núi nối liền nhau, lũng sâu bên dưới, cổ thụ chen dây leo tạo ra một khung cảnh cực kỳ xinh đẹp, khiến cho bao nhiêu mệt nhọc như đã được giũ sạch. Có 5 ngọn núi đứng độc lập chầu về núi Bích Động, trông giống như 5 cánh hoa sen, được gọi là Ngũ Nhạc Sơn; gồm núi Tầm Sặng, núi Gia Định, núi Con Lợn, núi Đầu Cầu và núi Hang Dựa. Một chiếc cầu nhỏ được gọi là cầu Giải Oan để lên chùa Thượng, người ta bảo rằng, ai bước qua cầu này sẽ quên hết những điều phiền não.
Dù thấm mệt, nhưng đã đến đây ai cũng muốn lên chùa Thượng. Những bậc đá lên chùa Thượng không được chắc chắn lắm, chúng được đẽo gọt, xếp thành 40 bậc cấp. Vừa đi, vừa ngoái nhìn bên dưới để cảm nhận thiên nhiên. Có thể nhìn thấy rõ đá được xếp thành tường trên cao để tạo thành một khoảng sân nhỏ trước chùa. Chùa Thượng chính là ngôi chùa đầu tiên được xây dựng ở Bích Động. Chùa nhỏ, bên trong chỉ có thể đứng khoảng năm người là chật. Cửa chùa đóng, nhưng có thể nhìn từ bên ngoài nhìn vào thấy thờ Phật Bà Quan Âm.
< Chùa Thượng.
Hai bên chùa có hai miếu thờ; hướng bắc thờ Sơn thần, hướng nam thờ Thổ địa. Cạnh chùa có một bể nước được gọi là "bể nước Cam Lồ". Tục truyền, ngày xưa ở quanh chùa Thượng có loại cây tên Sơn Kim Cúc. Cây nở ra hoa màu vàng, cánh hoa nhỏ, phơi khô làm trà; người ta cho biết loại trà này là loại thuốc trị bệnh mắt mờ.
Tính từ dưới chân núi để lên chùa Thượng là đã vượt qua độ cao 60 mét. Trong không gian phiêu bồng, bước chân qua cây cầu bao quanh hoa sen nở, rồi lên tận chùa Thượng đi tìm hoa Sơn Kim Cúc, ngắm nhìn núi Ngũ Nhạc giao hòa, đủ thỏa lòng một chuyến hành hương cổ tự giữa non sông.
Theo Khuê Việt Trường (Thời Báo Kinh Tế Sàigòn)
Du lịch, GO!
Nằm trong cụm du lịch Tam Cốc - Bích Động thuộc xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình. So với Tam Cốc gần đó thì ngày thường Bích Động ít khách hơn, hàng quán bán bên ngoài phục vụ du khách cũng ít hơn. Nhưng đã đến Ninh Bình mà không ghé đến Bích Động thực là phí một chuyến đi.
Lúc đầu, đây chỉ là một ngôi chùa nhỏ gọi là chùa Đông (vì xoay về hướng Đông) tức là chùa Thượng bây giờ; đến đời vua Lê Hiển Tông (1740) chùa đổi thành Bạch Ngọc Thạch Sơn Đồng. Tên Bích Động do vua Tự Đức đặt vào thế kỷ XIX.
< Chùa Trung.
Chúng tôi nao nức viếng chùa Bích Động như mỗi lần có dịp lần đầu tiên đặt chân đến một danh thắng. Có một điều khác với miền Trung, đến Bích Động, đi từ chùa Hạ đến tận chùa Thượng, chúng tôi không hề thấy bóng dáng một nhà sư hoặc ni cô nào mà chỉ toàn gặp những người mời chào đi thuyền dạo chơi trên sông Hoàng Long. Sông Hoàng Long là con sông chảy bao quanh Bích Động với hoa sen thả đầy khiến cho Bích Động như luôn đẫm trong hương sen vào mùa hoa nở. Dulichgo
Bên con đường vào thế giới tĩnh mặc của ngôi chùa có một ngọn núi đá vôi chồm ra, tạo một khỏang trống bên dưới với cây xanh phủ tỏa. Dưới bóng mát phủ lối đi là dăm người bán những mặt hàng lưu niệm lặng lẽ chờ đợi khách dừng chân. Sự rộn ràng thật sự khi đi qua chiếc cầu xi măng nhỏ, lòng lâng lâng khi ngắm nhìn bao quanh là hoa sen lộng lẫy. Bước chân qua vòm cổng là vào không gian của Bích Động.
< Đường vào Bích Động.
Và câu chuyện kể gắn liền với Bích Động - gần như mọi người quanh vùng đều thuộc làu - là hai vị sư tên Trí Kiên và Trí Khê quê ở Nam Định trong hành trình thuyết pháp, truyền bá đạo Phật, năm 1705 dừng chân ở núi Bích Động khi ấy mới chỉ có một ngôi chùa nhỏ, đã quyên góp thập phương để xây dựng ba ngôi chùa dựa lưng vào vách núi, giữa thiên nhiên đất trời giao hòa đẹp lộng lẫy như hiện nay.
Bích Động cheo leo theo những bậc thang. Với kiến trúc theo kiểu chữ “đinh”, chùa Hạ thanh thoát mái ngói cong. Nơi đây có một cây mít được gắn tấm bảng đặt tên là “Cây mít thế kỷ”; dù trông rất “già”, gốc lớn nhưng vẫn đeo rất nhiều trái thành chùm, e chuyện đặt tên chỉ nhằm lôi kéo thói tò mò của du khách chứ cây này chưa thể đến trăm tuổi được. Có một khu vực riêng là mộ tháp của các vị hòa thượng từng trụ trì ở chùa. Núi ở đây là đá vôi, từ nơi này ngước nhìn lên núi cao, cảnh quan vách núi với những nhũ đá nhô ra, lõm vào thành những hang nhỏ tạo cho du khách cảm giác kỳ lạ.
< Chùa Hạ.
Ghé chùa Hạ trong thóang chốc, lại bước chân lên 120 bậc cấp theo hình chữ chi. Những bậc cấp này cũng đã có hàng mấy trăm năm trước, đục vào núi mà thành. Chùa Trung nằm một nửa bên ngoài, một nửa nằm vào núi, cũng màu đất nâu sậm. Trước chùa có lư hương lớn đúc bằng xi măng, có sẵn nhang để khách hành hương thắp lên tỏ lòng kính cẩn. Từ chùa Trung, mắt có thể ngắm nhìn không gian thênh thang bên dưới.
Nhưng hấp dẫn nhất là lúc bước chân vào động Tối. Bên cạnh chùa Trung có một miếu nhỏ, từ đây có một con đường nhỏ bên cạnh vách núi phẳng. Vừa ra ra khỏi vách núi là bước chân vào một vùng tối thâm u, được biết phải bước lên 21 bậc cấp. Đoàn đi trước chuẩn bị đèn pin của người dẫn đường nên vượt qua con đường lên động Tối dễ dàng. Còn tôi đi sau, bước chân dò dẫm trong bóng đêm, lò mò dẫm từng bậc cấp, dẫu có bật đèn từ chiếc điện thoại di động vẫn không đủ ánh sáng để vượt qua đoạn đường kỳ thú này. Bậc cấp lên cao lần, cho đến khi thấy ánh sáng hắt vào mới biết là tới đích.
< Đường lên chùa Trung.
Thì ra động Tối nằm trọn trong lòng núi. Trong động Tối này có một chiếc chuông cổ, có từ năm Đinh Hợi (1707). Nhiều khách đánh chuông để cầu nguyện với niềm tin rằng làm thế sẽ cầu được điều tốt lành. Trong động có những nhũ đá mà trí tưởng tượng có cảm giác như các ông tiên, bà tiên ở đó. Ngoài ra tại động Tối còn có tượng Phật bằng đồng đen nằm uy nghi nhìn ra dãy núi phía trước.
Ra khỏi động Tối, du khách thấy mình đang đứng bên sườn núi cao. Ngắm nhìn bên dưới, vách núi nối liền nhau, lũng sâu bên dưới, cổ thụ chen dây leo tạo ra một khung cảnh cực kỳ xinh đẹp, khiến cho bao nhiêu mệt nhọc như đã được giũ sạch. Có 5 ngọn núi đứng độc lập chầu về núi Bích Động, trông giống như 5 cánh hoa sen, được gọi là Ngũ Nhạc Sơn; gồm núi Tầm Sặng, núi Gia Định, núi Con Lợn, núi Đầu Cầu và núi Hang Dựa. Một chiếc cầu nhỏ được gọi là cầu Giải Oan để lên chùa Thượng, người ta bảo rằng, ai bước qua cầu này sẽ quên hết những điều phiền não.
Dù thấm mệt, nhưng đã đến đây ai cũng muốn lên chùa Thượng. Những bậc đá lên chùa Thượng không được chắc chắn lắm, chúng được đẽo gọt, xếp thành 40 bậc cấp. Vừa đi, vừa ngoái nhìn bên dưới để cảm nhận thiên nhiên. Có thể nhìn thấy rõ đá được xếp thành tường trên cao để tạo thành một khoảng sân nhỏ trước chùa. Chùa Thượng chính là ngôi chùa đầu tiên được xây dựng ở Bích Động. Chùa nhỏ, bên trong chỉ có thể đứng khoảng năm người là chật. Cửa chùa đóng, nhưng có thể nhìn từ bên ngoài nhìn vào thấy thờ Phật Bà Quan Âm.
< Chùa Thượng.
Hai bên chùa có hai miếu thờ; hướng bắc thờ Sơn thần, hướng nam thờ Thổ địa. Cạnh chùa có một bể nước được gọi là "bể nước Cam Lồ". Tục truyền, ngày xưa ở quanh chùa Thượng có loại cây tên Sơn Kim Cúc. Cây nở ra hoa màu vàng, cánh hoa nhỏ, phơi khô làm trà; người ta cho biết loại trà này là loại thuốc trị bệnh mắt mờ.
Tính từ dưới chân núi để lên chùa Thượng là đã vượt qua độ cao 60 mét. Trong không gian phiêu bồng, bước chân qua cây cầu bao quanh hoa sen nở, rồi lên tận chùa Thượng đi tìm hoa Sơn Kim Cúc, ngắm nhìn núi Ngũ Nhạc giao hòa, đủ thỏa lòng một chuyến hành hương cổ tự giữa non sông.
Theo Khuê Việt Trường (Thời Báo Kinh Tế Sàigòn)
Du lịch, GO!
Subscribe to:
Posts (Atom)






















