Showing posts with label Tuyến xe - Đường xá. Show all posts
Showing posts with label Tuyến xe - Đường xá. Show all posts

Wednesday, January 7, 2015

Thông thêm 5km cao tốc Long Thành - Dầu Giây

Từ 10/1, khi đoạn An Phú đến nút giao Vành đai 2 được đưa vào sử dụng, ôtô từ Sài Gòn đi lên cao tốc tốc TP HCM - Long Thành rút ngắn thêm 5 km so với trước. Toàn bộ các tuyến của cao tốc sẽ thông xe trước Tết Nguyên đán.

Chiều 7/12, ông Phạm Hồng Quang, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) cho biết, 4 km đoạn đường từ An Phú (quận 2) đến nút giao Vành đai 2 (tốc độ thiết kế 80 km/h, 4 làn xe; rộng 26,5 m) thuộc dự án đường cao tốc TP HCM - Long Thành - Dầu Giây sẽ được đưa vào sử dụng ngày 10/1.

Khi đó, đường cao tốc TP HCM - Long Thành - Dầu Giây sẽ được kết nối với đại lộ Đông - Tây (Mai Chí Thọ), ôtô không phải vòng qua đường Đồng Văn Cống và Vành đai 2 như trước đây. Việc này góp phần giải quyết tình trạng quá tải tại khu vực vòng xoay Mỹ Thủy (quận 2), đồng thời rút ngắn đoạn đường từ trung tâm thành phố vào cao tốc thêm 5 km so với trước.

Về tiến độ của 31 km còn lại của đường cao tốc TP HCM – Long Thành – Dầu Giây, đại diện VEC cho biết, hiện nhà thầu đã thi công xong 17 km, còn 14 km cuối đã đạt tiến độ 80 %. Dự kiến toàn bộ 55 km cao tốc sẽ được thông xe vào ngày 8/2 để kịp thời phục vụ nhu cầu đi lại tăng cao của người dân. "Đây chỉ là mốc thời gian dự kiến, song chắc chắn chúng tôi sẽ thông xe toàn tuyến trước Tết Nguyên đán", ông Quang cam kết.

Sau khi toàn tuyến cao tốc này được đưa vào sử dụng, đoạn đường từ TP HCM đi Vũng Tàu chỉ còn 95 km với thời gian khoảng một giờ 20 phút thay vì 120 km và 2 giờ 30 phút như trước. Đồng thời, từ TP HCM đi Ngã ba Dầu Giây (quốc lộ 1 và hướng đi Liên Khương) sẽ chỉ còn 50 km với thời gian một tiếng thay vì 70 km và mất đến 3 giờ do thường xuyên bị ùn tắc.

Được khởi công vào tháng 10/2009, cao tốc TP HCM - Long Thành - Dầu Giây có chiều dài gần 55 km với quy mô 4 làn xe, tốc độ thiết kế 120 km/h và tổng số vốn đầu tư là 20.630 tỷ đồng (vay của ngân hàng ADB, JICA và vốn đối ứng). Dự án được chia thành 2 đoạn. Đoạn đầu từ nút giao An Phú đến Long Thành - Đồng Nai - dài 23,9 km đi qua quận 2, 9 (TP HCM); huyện Nhơn Trạch và Long Thành (Đồng Nai). Đoạn còn lại từ Long Thành đến Dầu Giây dài 31,1 km đi qua huyện Long Thành; Cẩm Mỹ và Thống Nhất thuộc tỉnh Đồng Nai. Dự án là một bộ phận của hệ thống đường bộ cao tốc Bắc - Nam, nằm trong vùng tam giác kinh tế trọng điểm TP HCM, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu.

Theo Hữu Công (Vnexpress)
Du lịch, GO!

Đường 12A: miền ký ức

(QBO) - Có lẽ trên dải đất miền Trung này, không có con đường nào lại mang trên mình những chứng tích lịch sử như tuyến đường 12A trải dài từ thị xã Ba Đồn đến Cửa khẩu quốc tế Cha Lo, nơi miền biên viễn Việt-Lào. Ở đó, dưới mỗi mạch ngầm của từng thớ đất đang gìn giữ hàng triệu bước chân người Việt với những câu chuyện truyền kỳ như là cổ tích...

1. Những ngày đầu năm mới, trong tiết trời se lạnh sang xuân, chúng tôi đã có cuộc hành trình theo đường 12A băng qua Ba Đồn, Tuyên Hóa, Minh Hóa đi tìm lại những kí ức về con đường lịch sử này. Những người trẻ như chúng tôi sinh ra và lớn lên khi đất nước đã thống nhất nhưng câu chuyện về đường 12A huyền thoại băng qua các miền đất đã in dấu những bước chân của cha anh ngày trước vẫn có sức cuốn hút đến kỳ lạ.

Ở những nơi này, các bậc tiền nhân đã để lại biết bao dấu tích khai phá miền đất mới; rồi có biết bao chàng trai, cô gái TNXP không quản mưa bom bão đạn của quân thù gìn giữ giao thông thông suốt cho những đoàn xe ra tiền tuyến... Bởi vậy, đường 12A không chỉ đơn thuần là một con đường kết nối hành lang kinh tế đông-tây của tỉnh Quảng Bình trong thời kỳ đổi mới, mà ở đây mỗi tấc đất đều gắn bó với tên người trên mọi miền đất nước. Dulichgo

Lịch sử ngành giao thông vận tải Quảng Bình chép rằng, đường 12A được mở ra từ thời Pháp thuộc khi giới tư bản chính quốc tìm thấy nguồn tài nguyên phong phú ở vùng Trung Lào. Do vậy, để khai thác phần của cải dồi dào này, bên cạnh tuyến cáp treo “không trung thiết lộ”, chính quyền thuộc địa đã huy động hàng chục nghìn lượt người Việt với hàng triệu ngày công xẻ núi, băng đèo xây dựng 70km đường từ ga Tân Ấp (Hương Hóa, Tuyên Hóa) lên biên giới Việt-Lào rồi vượt dãy Trường Sơn kết nối với tuyến 12 ở thị xã Thà Khẹt (Khăm Muộn). Chính vì vậy, ngoài Quốc lộ 1, không có tuyến đường nào trên mảnh đất Quảng Bình lại có bề dày lịch sử như đường 12A.

2. Khi đất nước bước vào cuộc trường chinh vệ quốc, con đường 12A lại mang trên mình trọng trách với đồng bào miền Nam ruột thịt, đó là khi Quốc lộ 1 và đường 15 bị chặn lại bởi dòng sông Bến Hải ở vĩ tuyến 17 và hàng rào điện tử Mcnamara. Đường 12A trở thành con đường thể hiện ý chí kiên cường của quân và dân miền Bắc khi đối đầu với không quân Mỹ để bảo vệ tuyến giao thông huyết mạch vận chuyển hàng hóa, khí tài, nhân lực ngược lên miền tây Quảng Bình vòng qua Lào rồi vào chiến trường miền Nam.

< Đường 12A đoạn qua cầu Cha Quang, xã Dân Hóa.

Ông Trần Hùng Sơn, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Cựu TNXP Quảng Bình bồi hồi nhớ lại, do bị thua đau trên chiến trường miền Nam nên tháng 2-1965, Mỹ mở chiến dịch “Sấm rền” với âm mưu dùng không quân đánh phá liên tục, dữ dội miền Bắc.

Là tuyến đầu của miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nên quân và dân Quảng Bình khẩn trương bước vào cuộc đối đầu trực tiếp với kẻ thù. Và để đối phó với không quân Mỹ trên mặt trận giao thông vận tải, ngoài việc sửa chữa các bến bãi, cầu phà, làm thêm các đường vòng, đường tránh, cũng thời gian này lực lượng TNXP Quảng Bình được thành lập mang mật danh Đội N73 và Đội N75. Dulichgo

Trong khi lực lượng TNXP N73 phục vụ ở đường 15 với các trọng điểm ác liệt đèo Đá Đẽo, ngầm Khe Rinh, làng Ho, phà Xuân Sơn... cùng hình tượng quả cảm của Anh hùng Lao động Đinh Thị Thu Hiệp thì TNXP N75 gồm 9 đại đội (từ 751 đến 759) “phá đá mở đường” và bảo vệ từng cung đoạn trên tuyến 12A.

Bà Trần Thị Thành, nguyên Chính trị viên Đại đội 759 TNXP kể lại, ngày 6-5-1965, 180 TNXP “mái tóc xanh xanh tuổi trăng tròn” của huyện Tuyên Hóa từ giã miền quê yêu dấu lên đường cứu nước rồi được biên chế trong đội hình C759 để bổ sung cho công trường 12A với nhiệm vụ bảo đảm giao thông trên đoạn đường 10km từ Khe Cấy đến Bãi Dinh.
Trong những ngày “mưa bom, bão đạn” đó, dù cuộc sống vô cùng khó khăn, gian khổ nhưng C759 vẫn kiên cường bám đường để “cho xe thẳng tới chiến trường” với ý chí đã trở thành bất tử “Địch đánh rừng già, ta ra rừng non/Địch đánh rừng non, ta ra đồi trọc/Địch đánh đồi trọc, ta ra bám đường”. Và ở C759 đã xuất hiện nhiều tấm gương được lưu danh cùng sử sách, đó là chị Trần Thị Thành dũng cảm đứng trên quả bom nổ chậm để đồng đội yên tâm san lấp mặt đường và trở thành hình ảnh trong bài thơ “Người ngồi trên bom nổ chậm” của nhà thơ Xích Bích; anh Trần Đức Hè lăn quả bom nổ chậm sau một trận đánh, về sau được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Nhưng bi tráng nhất là sự kiện 7 chiến sĩ bị vùi lấp ở Km21 (nay là Km121-NV) đồi Cha Quang vào ngày 3-7-1966 để rồi trong tâm thức đồng đội C759, quả đồi thoai thoải bên đường 12A mãi mãi mang tên Đồi 37 anh hùng. Hiện nay, mỗi lần xuôi ngược trên đường 12A, chúng ta có thể thấy ở địa điểm này có một Nhà bia tưởng niệm và cũng là Di tích lịch sử cấp quốc gia để tri ân các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì độc lập tự do của Tổ quốc.

Ngoài Đồi 37, đường 12A còn là nơi in dấu các địa danh Cổng Trời, Mụ Giạ, Bãi Dinh, Khe Ve, La Trọng, trận địa pháo phòng không của Anh hùng Nguyễn Viết Xuân, Binh trạm 12... Chính vì những công lao to lớn của lực lượng TNXP, nên lúc sinh thời người Anh Cả của quân đội ta, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có lời đánh giá về lực lượng TNXP: “Tôi luôn coi thanh niên xung phong như bộ đội vì trong phẩm chất của thanh niên xung phong có phẩm chất của Bộ đội Cụ Hồ”.

3. Ngày nay, Quốc lộ 12A tiếp tục sứ mệnh lịch sử của mình, vì với chiều dài gần 150km tuyến đường trở thành mạch máu giao thông quan trọng kết nối Quảng Bình-Khăm Muộn và các tỉnh vùng Đông Bắc Thái Lan trong tiến trình hội nhập phát triển kinh tế. Đặc biệt là sau khi được nâng cấp mở rộng, tuyến đường cùng với Khu kinh tế cửa khẩu Cha Lo trở thành nơi phát triển thương mại, dịch vụ như là sự tiếp nối, tri ân những người đi trước mở đường và là điểm tựa cho đồng bào dân tộc thiểu số quanh vùng. Dulichgo

Anh Nguyễn Văn Dinh, Phó đại diện Ban quản lý tại Khu kinh tế cửa khẩu Cha Lo cho biết, thời gian gần đây, với những chính sách thông thoáng tạo được môi trường thuận lợi nên Khu kinh tế cửa khẩu Cha Lo trở thành điểm đến của các nhà đầu tư, doanh nghiệp nhằm phát triển thương mại, dịch vụ trong khu vực này. Hàng năm, hoạt động xuất nhập cảnh, xuất nhập khẩu đều mang lại những tín hiệu vui, như năm 2014 chẳng hạn, lưu lượng hàng hóa qua cửa khẩu đạt trên 2 triệu tấn, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt trên 1.500 triệu USD, phương tiện xuất nhập cảnh trên 65 nghìn lượt, gần 500.000 nghìn lượt người xuất nhập cảnh, thu thuế đạt trên 200 tỷ đồng...

< Xe qua cửa khẩu Cha Lo.

Những con số tưởng chừng như khô khan này nhưng lại là một minh chứng hết sức thuyết phục về định hướng phát triển kinh tế-xã hội ở địa bàn miền tây xa ngái của tỉnh, trong thời kỳ hội nhập sâu rộng hiện nay. Đường 12A, với sứ mệnh mới của mình đã nối liền hai miền xuôi, ngược để đồng bào cả tỉnh, cả nước và nước ngoài có thể giao thương buôn bán thuận lợi trong một khung cảnh bình yên, xóa nhòa khoảng cách về địa lý.

Đường 12A trong mùa xuân mới lại có tâm thế của một con đường dạn dày trong lịch sử để tiếp tục gánh vác trọng trách giữ lấy những nét văn hóa trầm mặc của đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống dưới tán rừng đại ngàn Trường Sơn; cũng như nâng tầm những bước chân khai phá vùng đất này nhằm phát triển kinh tế-xã hội, tiếp tục tạo dựng cho miền phên dậu phía tây của tỉnh nhà một thế đứng vững chãi hơn.

Theo Trần Minh Văn (Báo Quảng Bình)
Du lịch, GO!

Sunday, January 4, 2015

Con đường lát đá đầu tiên ở TP.HCM

Đường Lê Thánh Tôn - con đường đầu tiên trong dự án được lát đá để cùng với đường Nguyễn Huệ trở thành quảng trường thành phố và là phố đi bộ của TP.HCM.

Đây là một phần của hạng mục thuộc dự án cải tạo nâng cấp đường Nguyễn Huệ (quận 1, TP.HCM).

Theo đó, đơn vị thi công đã lát đá đường Lê Thánh Tôn (đoạn từ Đồng Khởi đến Pasteur) dài 220m, rộng 14m với tổng diện tích lát đá là 3.080 m2. Sau khi lát đá, xe cộ vẫn đi lại bình thường trên mặt đường Lê Thánh Tôn.

< Ngày 4/1, các đơn vị thi công thuộc gói thầu số 1 đã hoàn thành lát đá đường Lê Thánh Tôn, Quận 1. Đây là tuyến đường đầu tiên trong dự án được lát đá để cùng với đường Nguyễn Huệ trở thành phố đi bộ và quảng trường thành phố trong thời gian tới.

Theo Khu Quản lý giao thông đô thị số 1, mỗi viên đá lát trên đường Lê Thánh Tôn và Nguyễn Huệ dày 8cm, và trên vỉa hè dày 6cm có độ bền sử dụng hàng trăm năm.

< Việc đưa vào sử dụng sớm hạng mục lát đá trên đường và vỉa hè đã giải quyết đáng kể vấn đề đi lại cho người dân cũng như tiện lợi cho sự tham quan của du khách quốc tế. 

Một số tuyến đường chính ở trung tâm thành phố như Lê Duẩn, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Lê Thánh Tôn, Nguyễn Bỉnh Khiêm… sẽ được lát đá granite và tăng cường mảng xanh. Đây là dự án cải tạo hè phố nhằm chỉnh trang đô thị, tạo mỹ quan, đồng thời thống nhất về kết cấu vỉa hè cây xanh trên các tuyến đường.

< Mặt tiền trụ sở UBND TP.HCM cũng đang được nâng cấp, chỉnh trang và sẽ hoàn thành trước dịp Tết nguyên đán 2015.

Trước đó, để đảm bảo tiến độ dự án nâng cấp cải tạo đường Nguyễn Huệ hoàn thành trước ngày 20/4/2015, UBND thành phố đã chỉ đạo Sở GTVT thường xuyên kiểm tra thực địa, điều phối tiến độ thi công giữa các đơn vị...

< Đây là phối cảnh dự án đường đi bộ tuyệt đẹp ở Sài Gòn sau khi hoàn thành. Công trình sử dụng màu sắc của đá granite với nhiều hoa văn đẹp mắt để trang trí trên mặt đường, tạo nên một công trình ấn tượng thu hút du khách trong và ngoài nước.

Đồng thời, UBND thành phố cũng giao Sở GTVT phối hợp với các đơn vị liên quan bố trí hệ thống các trụ điều khiển xe tự động tại vị trí giao cắt giữa đường Nguyễn Huệ với các đường nhánh và tại các khu vực đài phun nước nghệ thuật; xây dựng các khu nhà vệ sinh công cộng dọc tuyến.

Dự án nâng cấp và cải tạo đường Nguyễn Huệ thành quảng trường đi bộ hiện đại bậc nhất thành phố có tổng kinh phí gần 430 tỷ đồng và sẽ hoàn thành trước tháng 4/2015 để kỷ niệm 40 năm ngày thống nhất đất nước.

Theo ông Huỳnh Xuân Thụ - Giám đốc Trung tâm thông tin Quy hoạch TP.HCM, đã có những phương án đặc biệt để thiết kế khu giữ xe cho người muốn vào đi bộ. Vì vậy, vào những dịp lễ tết, người dân sẽ yên tâm dạo bước trên con đường đi bộ được cho là đẹp nhất thành phố.

Theo Kênh 14
Du lịch, GO!

Friday, January 2, 2015

Ước vọng theo những cung đường

(QNO) - Biên giới không còn xa, khi những con đường bắt đầu vươn mình về phía núi, nối nhịp ân tình giữa miền ngược - miền xuôi…

< Lần đầu tiên, người dân Côn Zốt (xã Chơ Chun) đã có thể đi xe máy vào tận làng.

Đi về phía núi

Chủ tịch xã Chơ Chun Pơloong Ađốc chỉ về phía “cổng trời” Côn Zốt, nơi máy xúc, máy ủi vẫn đang ầm ào tiến sâu vào trong rừng, nói: “Không ai vui mừng bằng chính những người dân nơi đây, khi giấc mơ thông thương đang dần thành hiện thực”. Đã bao đời người dân Côn Zốt, A Sò, Blăng ở Nam Giang vẫn khao khát một con đường để cái lưng đỡ mỏi, cái vai bớt trĩu nặng mỗi khi gùi hàng hóa bán mua với bên ngoài. Đó là chưa kể mỗi khi ốm đau, bệnh tật, nhiều người dân chỉ biết ngồi “bó gối” bên hiên nhà vì không thể vượt hàng chục cây số đường rừng đưa người đến bệnh viện.

“Đường được mở, người dân Chơ Chun mới dám nghĩ đến giấc mơ trường, trạm, có điện thắp sáng, có xe vận chuyển hàng hóa về làng. Giấc mơ đó không còn xa nữa, khi bà con tận mắt thấy xe ủi, xe xúc mở đường, ô tô đã có thể vào tận bản làng cuối cùng ở vùng biên giới” - ông Ađốc phấn khởi cho biết.

Chơ Chun là xã vùng biên xa xôi nhất của huyện Nam Giang. Những năm trước, muốn vào trung tâm xã chỉ có cách duy nhất là cuốc bộ hàng giờ đồng hồ theo đường cũ. Mùa mưa lũ, hàng trăm hộ dân xã Chơ Chun gần như bị cô lập. Công văn, thư tín bao giờ cũng “trễ hẹn” mới đến tay. Nơi đây từng được mệnh danh là xã “5 không” của huyện Nam Giang: không điện, không đường, không trường, không trạm và không có sóng điện thoại. Chủ tịch UBND huyện Nam Giang Alăng Mai từng trăn trở: “Xã Chơ Chun được chia tách với gần 1.000 nhân khẩu từ năm 2011, nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.

Tuy nhiên, những cách trở về địa lý đòi hỏi một nguồn lực đầu tư quá lớn, địa phương không thể đáp ứng trong một thời gian ngắn. Đây chính là trở lực khiến Chơ Chun chưa thể thoát nghèo, phát triển kịp với các xã khác ở vùng cao”. Đặt mục tiêu xây dựng hạ tầng giao thông, kết nối xã Chơ Chun với các xã vùng biên lân cận, huyện Nam Giang đã tranh thủ mọi nguồn lực đầu tư, xem đây là tiêu chí ưu tiên hàng đầu. Cuối năm 2013, UBND tỉnh phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình đường biên giới nối từ xã Chơ Chun, huyện Nam Giang đến xã Ga Ri và xã A Xan, huyện Tây Giang (giai đoạn 1) do Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng làm chủ đầu tư. Dulichgo

Công trình có tổng chiều dài tuyến 10km, với tổng mức đầu tư hơn 75,3 tỷ đồng từ nguồn vốn Trung ương hỗ trợ có mục tiêu, chương trình quản lý bảo vệ biên giới và ngân sách tỉnh. Bên cạnh đó, con đường dẫn từ Chà Vàl (trung tâm của 6 xã vùng cao huyện Nam Giang) về với Chơ Chun bắt đầu được triển khai mở rộng, như một “dấu mốc” khởi đầu cho ước vọng vươn mình của vùng biên. Những chiếc gùi nay chỉ còn dùng lên rẫy, việc vận chuyển bán buôn nông sản làm ra đã có thể bắt đầu gửi theo những chuyến xe chở hàng. Chuyện đổi hàng lấy hàng đã lùi dần vào quá khứ, những tiệm tạp hóa nhỏ mọc lên ở các bản làng như một tín hiệu vui cho những đổi thay nơi “cổng trời”. Già làng Coor Nghêu hồ hởi: “Cả đời già sống trong cực khổ, nay được thấy cái xe vào làng, thấy con cháu đi học bớt khó khăn, mừng lắm!”.

Qua thời gian khó

< Cây cầu bắc ngang sông R’lang giúp Phú Mưa không còn là ốc đảo.

Trong ký ức những ngày xa, A Duông 2, Ka Đắp, Phú Mưa là cái tên gợi lên muôn vàn cách trở ở vùng cao Đông Giang. Đã một thời được mệnh danh là những ngôi làng “ốc đảo”, người dân nơi đây đi qua nhiều cái tết chưa trọn vẹn. Dùng bè nứa, qua cầu khỉ chông chênh là cách duy nhất để ra khỏi làng. Nhưng đó đã là câu chuyện của ngày hôm qua. Bây giờ, trở lại A Duông 2, Ka Đắp, Phú Mưa, con đường đã về đến làng, mang theo điện thắp sáng cùng những đổi thay. Một “cuộc cách mạng về văn minh” đã đổ bộ, khi tivi, xe máy và nhiều vật dụng khác được sắm sửa, phục vụ. Già làng Ating Lăng (thôn A Duông 2, thị trấn P’rao) kể: “Lâu nay làng A Duông 2 không bằng các làng khác, cái gì cũng thiếu, cũng hụt. Giờ thì khác rồi, không còn khổ cực mãi như hồi trước nữa”.

Lời kể giản dị của già Lăng chất chứa nỗi chạnh lòng của mấy mươi năm trẻ con soi đèn pin đi học, đàn bà sinh con ngay trên võng khi trở dạ mà không kịp đến trạm y tế. Mấy mươi năm là khi lập bản lập làng giữa núi rừng, khi các cựu binh trở về hô vang Bắc - Nam thống nhất. Giữa trập trùng gian khó của vùng cao, những đổi thay từng ngày lặng lẽ khoác cho A Duông 2, Ka Đắp, Phú Mưa và nhiều bản làng khác một màu áo mới.

< Lũ trẻ làng A Duông 2 háo hức xem tivi khi điện đã về.

Như những mạch máu nuôi sống đất và người, những con đường len lỏi vươn đến nơi xa nhất, nơi khó khăn nhất, để bản làng ấm no hơn, để ánh điện thắp cho trẻ con học chữ, để người lớn xem tin tức, để các amế (mẹ), ađhi (em) mang nông sản theo xe ra chợ huyện bán mua, lấy muối, lấy thịt cá mang về. Chủ tịch xã Arooih (Đông Giang) Hốih Bảy bộc bạch: “Trước những bức xúc khi phải đi lại bằng bè nứa hoặc phải lội sông, người dân thôn Ka Đắp đã cùng với chính quyền tự mở con đường tránh vòng lên đến A Dinh. Bây giờ, hơn nửa con đường đã được bê tông hóa. Đó là con đường của lòng dân, của sự đồng thuận, mở lối thoát những khó nghèo vây lấy bao năm”.

Trong gươl làng Phú Mưa, sợi cáp dài giăng ngang sông R’lang treo giữa nóc được lưu giữ như một kỷ vật của làng. Sợi cáp đi cùng bao năm tháng, đưa người làng Phú Mưa vượt sông nay đã nhuốm màu khói bếp. Thi thoảng già làng vẫn kể chuyện cho cháu con nghe về ngày xưa. Đó là mảnh ký ức gắn với mùa mưa lũ, với chuyện vượt sông đưa con trẻ đến trường. Đi trên cây cầu mới, người làng vẫn nhìn về phía gốc sung già, nơi neo một đầu sợi cáp vượt sông thuở trước. Dulichgo

Già Alăng Chúc, người huy động dân làng làm không biết bao nhiêu chiếc bè nứa để vượt sông đã yêu cầu cất sợi dây cáp trong gươl từ khi cây cầu được dựng để con cháu không quên thời gian khó mà dân làng đã trải qua. “Giữ lại sợi cáp đó, để biết trân trọng những gì đã qua, mừng cho bản làng hôm nay đổi mới. Lúa mới đầy kho, muối đầy ché cũng có phần công của cây cầu bắc về làng”- già Chúc nói.

Dự đêm hội làng mừng mùa lúa mới, ngân nga bên ché rượu cần là những câu hát lý hân hoan. Các ama (cha) bớt kể về gian khó, bớt buồn về thiếu muối, thiếu ăn. Câu hát lý chia nhau niềm vui mừng con đường mới mở, mừng ánh điện về với buôn làng. Rượu cần mềm môi, tiếng trống chiêng như đồng vọng niềm vui của bản theo những con đường mơ ước.

Theo Phương Giang, Alăng Ngước (báo Quảng Nam)
Du lịch, GO!

Tuesday, December 23, 2014

Ðường tre đẹp nhất Sa Pa

(BLC) - Lên Sa Pa, nếu đến làng du lịch Tả Van, đi trên tuyến đường từ thị trấn Sa Pa - Tả Van, ai cũng phải ngỡ ngàng khi đi qua đoạn đường gần 1km hàng tre, mai, trúc xanh mướt bốn mùa dọc hai bên đường.

Từ lâu, hình ảnh lũy tre xanh đã gắn liền với làng quê Việt Nam. Cây tre tượng trưng cho con người Việt Nam cần cù, chịu thương, chịu khó, sống trung thực, ngay thẳng, luôn đoàn kết gắn bó, nương tựa lẫn nhau để vươn lên trong cuộc sống và chống lại kẻ thù. Thông thường, những lũy tre xanh thường gặp ở các làng quê vùng đồng bằng cùng với với hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình, tạo nên vẻ đẹp cổ kính, bình dị. Thật bất ngờ, ở ngay “Thành phố trong sương”, dưới chân dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ - xứ sở của các loại sa mộc và những loài cây xứ lạnh, chúng ta lại bắt gặp những lũy tre, lũy mai xanh tốt đẹp đến vậy.

Hai hàng tre ở đây được một số hộ dân người Mông thuộc tổ 7, thị trấn Sa Pa trồng cách đây đã nhiều năm. Các bụi tre khi mới trồng còn nhỏ và thưa, nay mỗi bụi có hàng chục đến hàng trăm cây ken dày tạo thành bờ lũy kiên cố chạy suốt hai bên đường. Những ngọn tre vươn lên cao vút, đan vào nhau tạo thành mái cong tự nhiên che cho đoạn đường luôn râm mát bốn mùa. Dulichgo

“Con đường tre” đẹp nhất là khi mặt trời mọc và lúc hoàng hôn buông xuống. Khoảnh khắc đó, ánh nắng chiếu nghiêng xuyên qua những thân tre và tán lá xuống mặt đất, tạo nên những vạt ánh sáng đẹp mê hồn. Mỗi khi có cơn gió thổi qua, ngọn tre trên cao xào xạc, ánh nắng cũng lay động theo tán lá; hàng trăm đốm nắng nhảy múa trên mặt đường vô cùng sinh động. Những ngày nắng, nhờ có hàng tre, đoạn đường luôn dịu mát, còn khi mưa nhỏ, đoạn đường khô ráo nên khách qua đường có thể trú mưa.

Hằng ngày, có hàng chục đoàn khách trong và ngoài nước từ thị trấn Sa Pa xuống các xã hạ huyện ngắm cảnh. Đặc biệt, du khách nước ngoài thường đi dạo bộ và tỏ ra rất thích thú khi đi qua đoạn đường tre xanh mát. Du khách đều không bỏ lỡ cơ hội chụp lại những bức ảnh về vẻ đẹp của đoạn đường độc đáo. Thậm chí, nhiều nhiếp ảnh gia đã “phục” ở đây cả ngày, kỳ công chờ đợi nắng lên để ghi lại được những khoảnh khắc đẹp của màu sắc và ánh sáng, con người và thiên nhiên trên đoạn đường tre này. Buổi trưa nhiều nắng gió, đi dạo qua đây, du khách còn được nghe tiếng chim hót trong trẻo, tiếng lá tre xào xạc, thân tre cựa mình chạm nhau phát ra những âm thanh vi vu như một bản nhạc du dương, êm đềm.

Đoạn đường tre giờ đây đã trở thành một điểm đến độc đáo, hấp dẫn du khách yêu thích bộ môn đi bộ và du lịch sinh thái khi tới Sa Pa. Những hộ dân là chủ nhân của hai lũy tre bên đường cũng tự hào về cảnh quan do chính họ tạo ra, nên tích cực bảo vệ hàng tre, không cho ai tới chặt phá, mỗi năm lại trồng thêm một ít, làm cho đoạn đường tre ngày càng dài và xanh tươi thêm.

Theo Tuấn Ngọc (Báo Lào Cai)
Du lịch, GO!

Sunday, December 21, 2014

5 cây cầu huyết mạch ở ĐBSCL

(VNE) - Không chỉ mang tính lịch sử, góp phần tạo thuận lợi cho người dân đi lại mà những cây cầu này còn làm nên nét đẹp rất riêng cho vùng sông nước mênh mông của tổ quốc.

1. Cầu Mỹ Thuận

Là cầu dây văng đầu tiên ở Việt Nam nối 2 bờ sông Tiền, nối liền 2 tỉnh Tiền Giang và Vĩnh Long, cầu Mỹ Thuận nằm trên quốc lộ 1A, trục giao thông chính của vùng đồng bằng sông Cửu Long, cách TP HCM 123km về phía tây nam.
Cầu dài 1535m theo hình rẻ quạt, 2 mặt phẳng với 4 làn xe cơ giới và 2 lề bộ hành rộng 23m. Ngày khánh thành cầu Mỹ Thuận thực sự là một ngày hội lớn đối với người dân ở 2 bờ sông Tiền. Việc giao thông, đi lại của người dân tỉnh Vĩnh Long dễ dàng hơn ngày trước giúp kinh tế vùng càng ngày càng phát triển.

2. Cầu Cần Thơ

Nối liền 2 bờ sông Hậu giữa tỉnh Cần Thơ và Vĩnh Long, tại thời điểm hoàn thành năm 2010 cầu Cần Thơ là cầu dây văng có nhịp chính dài nhất khu vực Đông Nam Á và thứ 10 thế giới.

Rộng 23m với 4 làn xe cơ giới và 2 làn bộ hành, nhịp chính cầu dài hơn 1km. Nhịp dây văng giữa 2 trụ tháp dài 550m. Đường dẫn vào cầu phía Vĩnh Long dài 520m, đường dẫn phía Cần Thơ dài 1,2km. Cầu Cần Thơ được xây bằng nguồn viện trợ ODA của chính phủ Nhật Bản, sau khi hợp long cầu Cần Thơ trở thành động lực phát triển mạnh mẽ cho thành phố Cần Thơ nói riêng và toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung do rút ngắn được thời gian đi lại giữa các tỉnh miền Tây, tiết kiệm được rất nhiều thời gian và chi phí vận chuyển.

3. Cầu Rạch Miễu

Khởi công năm 2002, khánh thành năm 2009, nằm trên quốc lộ 60 qua sông Tiền, cầu Rạch Miễu nối liền thành phố Mỹ Tho với tỉnh Bến Tre. Đây là công trình tiêu biểu do Việt Nam tự đầu tư, thiết kế và thi công. Dulichgo

Rạch Miễu là cầu dây văng lớn thứ ba ở miền Tây, bên cạnh cầu Mỹ Thuận và cầu Cần Thơ. Dài 8331 bao gồm cả đường dẫn nối 2 đầu cầu, chiều cao thông thuyền 37,5m cho phép tàu có tải trọng 10.000 tấn có thể đi qua. Trong tương lai, sau khi cầu Vàm Cống và cầu Cổ Chiên hoàn thành, mạng lưới cầu dây văng nối liền các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long sẽ hoàn chỉnh góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế và du lịch vùng.

4. Cầu Vĩnh Ngươn

Ở Châu Đốc, An Giang có một kênh đào rất nổi tiếng chạy dọc biên giới Việt Nam - Campuchia từ thành phố Châu Đốc xuống đến thị xã Hà Tiên là kênh Vĩnh Tế. Đây từng là kênh đào dài nhất, lớn nhất và được thi công lâu nhất trong lịch sử khai khẩn miền đất phương Nam. Đại thần Nguyễn Văn Thoại (Thoại Ngọc Hầu), một danh thần triều Nguyễn là người chỉ huy trực tiếp việc đào con kênh này trong cả ba giai đoạn lịch sử.

Cầu Vĩnh Ngươn tạo thuận lợi về giao thông đường bộ và góp phần đẩy mạnh các lĩnh vực thương mại, dịch vụ công nông nghiệp và nâng cao mức sống cho người dân ở phường Vĩnh Ngươn, góp phần đóng góp phát triển kinh tế biên giới của thành phố Châu Đốc.

5. Cầu Bình Thủy

Cầu Bình Thủy bắc qua xép Năng Gù, nối liền giao thông trên quốc lộ 91 từ phía thành phố Châu Đốc đến thị trấn Chợ Mới, thị trấn Mỹ Luông và thành phố Sa Đéc.

Dù chỉ là một cây cầu nhỏ, không bề thế về quy mô với các cầu dây văng qua sông Tiền, sông Hậu nhưng cầu Bình Thủy có giá trị đặc biệt qua trọng nối liền huyện Chợ Mới, An Giang với huyện Châu Phú và các tỉnh phía Tây Nam vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Theo Khánh Bằng (Vnexpress)
Du lịch, GO!

Monday, December 15, 2014

Những người 'ôm' mây ngủ trên đỉnh Pha Đin

Có những con đường gắn liền với từng mốc son quan trọng trong lịch sử. Có những cung đường đèo gánh cả sức nặng của tình người, của sự hy sinh, của những chiến tích anh hùng qua thời gian. Một trong số đó là đèo Pha Đin huyền thoại nằm trên quốc lộ 6 chạy dọc các tỉnh phía Tây Bắc Việt Nam. Khi nghĩ về con đèo dài 32km, được mệnh danh là một trong sáu đèo ấn tượng nhất Việt Nam.

Thách thức lòng dũng cảm và máu phiêu lưu

Từ Hà Nội, nếu không đi bằng đường hàng không, chắc chắn chúng ta phải ngược quốc lộ 6, qua Hòa Bình, Sơn La tới lòng chảo Điện Biên, nơi ghi dấu chiến thắng lịch sử "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" năm 1954.

Đặc điểm địa hình khiến cung đường hiểm trở với nhiều khúc quanh ngoằn ngoèo, thử thách bản lĩnh cầm lái của bao người. Thế nhưng, đoạn đèo Pha Đin nối hai tỉnh Sơn La và Điện Biên qua hai huyện Thuận Châu và Tuần Giáo là cung đèo cân não nhất với cả những tay lái xe đường dài lâu năm qua con đường này.

Xưa, ai đó mỗi lần qua đây đều ám ảnh bởi sự heo hút không bóng người qua lại, bởi những câu chuyện "thổ phỉ" có thật. Nay, người ta vẫn không khỏi "gai người" khi nghĩ đến khoảng thời gian vượt dốc, đổ đèo với những khúc quanh tay áo, những đoạn cua chữ A, chữ Z, độ dốc trung bình là 10%, cao nhất có đoạn cục bộ dốc tới 17, 18%, độ nghiêng của mặt đường có thể khiến bánh xe bị lật lúc nào không biết, nhất là những container.

Đỉnh đèo được người dân khắp vùng gọi là cổng trời. Xuất xứ tên đèo bắt nguồn từ tiếng Thái, gọi là Phạ Đin nghĩa là trời đất. Người ta cho rằng nơi đèo heo hút chỉ có gió mây vần vũ quanh năm với núi rừng đại ngàn ấy là nơi giao thoa giữa trời và đất. Chẳng thế mà bao người tin rằng chạm đến cổng trời Pha Đin mà dừng chân đứng lại nhìn khắp bốn phương với trời xanh mây trắng và nguyện ước một điều gì đó tốt đẹp thì mọi chuyện sẽ được như ý muốn?!

Người dân hai tỉnh Lai Châu và Sơn La sống ở khu vực quanh đèo đã có nhiều cuộc xô xát, tranh chấp quyền "sở hữu" cổng trời. Tranh chấp xảy ra nhiều năm liền, bất phân thắng bại. Cả hai bên đều không chịu lùi bước, cuối cùng họ đành xử hòa bằng cách tổ chức một cuộc đua ngựa ngay trên đường đèo.

Ngựa của Sơn La và Lai Châu cùng xuất phát từ hai điểm được cho là cuối chân đèo. Khi hai đoàn ngựa gặp nhau ở một điểm sẽ là ranh giới. Ngựa bên nào chạy nhanh hơn thì bên đó được sở hữu phần đèo dài hơn. Kết thúc cuộc thi, phần cổng trời đã thuộc về tỉnh Lai Châu (nay thuộc Tuần Giáo, Điện Biên) vì ngựa Lai Châu đã chạy được 2/3 đường đèo.

Ông Nguyễn Văn Hùng (SN 1930) ở Việt Hùng, Quế Võ, Bắc Ninh, một trong những bộ đội chủ lực của trận đánh lịch sử năm 1954 tại Điện Biên Phủ kể lại: "Đèo Pha Đin ngày đó đâu có nhựa trải phẳng như bây giờ. Đường đèo là đường được kết bằng những đoàn người hành quân và vận chuyển vũ khí, đạn dược. Tôi đã đôi lần trở lại chiến trường xưa bằng ô tô, đi dọc con đường 6 mà ngạc nhiên quá. Thời chúng tôi, đường chỉ là những lối mòn”.

Không muốn rời đèo vì thích "ngủ với mây"

Lần này, ngược Điện Biên, tôi cùng bạn đồng hành chọn phương tiện là xe máy để thử cảm giác "phượt" cung đèo của lịch sử. Quốc lộ 6 ngày nay đoạn đèo Pha Đin đã được Nhà nước đầu tư xây dựng lại thấp và to, đẹp, bớt hiểm trở hơn cũ. Thường chỉ có khách du lịch hoặc dân "phượt" mới can đảm chọn đường đèo cũ để thỏa chí phiêu lưu mạo hiểm. Tưởng rằng qua đèo sẽ chỉ có mình đối diện với đá với núi và "ngửi mây" miễn phí, nhưng tôi đã lầm. Người Thái đã có mặt và sinh sống dọc hai bên đường khu vực đỉnh đèo, xua đi cảm giác lạnh lẽo, heo hút của nơi đất trời hòa quyện. Những ngôi nhà tưởng lúp xúp, tạm bợ ngay ven đường đèo lại ẩn chứa trong nó nghị lực sống kiên cường. Dulichgo

Một phần vì mệt mỏi sau chặng đường dài, một phần vì tò mò với ngôi nhà sàn nhỏ nhắn, đơn sơ dựng ngay ven đường theo kiểu của dân tộc Thái, chúng tôi táp xe dừng lại bắt chuyện. Phải mất một lúc sau, sự bất đồng ngôn ngữ của chúng tôi mới được giải tỏa qua vài câu nói "trọ trẹ" của người phụ nữ. Thì ra họ đều không nói được tiếng Kinh, chỉ có bà Cà Thị Kỉn (SN 1963) là biết nói đôi ba câu vì xưa ở quê, bà có tiếp xúc với khá nhiều người Kinh.

Được biết, bà là người Thái gốc ở Phong Xa Lì của Lào. Sau cuộc chiến Điện Biên Phủ, mẹ bà lấy chồng Việt Nam nên chuyển sang Sam Mứn sinh sống. Sau này, khi chọn chồng bà vẫn theo mẹ chọn đàn ông Thái. Bà tâm sự: "Đàn ông Thái chăm chỉ cần cù và thương vợ lắm". Cuộc sống tuy không giàu có nhưng cũng đủ ăn, đủ tiêu. Rồi một lần có việc gia đình, hai vợ chồng bà đi qua Sơn La thăm họ hàng. Đến vùng đèo thiêng này, thấy trời đất giao hòa, khí trời thanh sạch thì ông bảo bà: "Hay vợ chồng mình chuyển lên đây sống nhé".

Chẳng hiểu sao, bà cũng đồng ý. Họ dọn lên đây sinh sống trong sự ngạc nhiên và không ít lời chỉ trích của bà con họ hàng dưới quê. Người ta bảo vợ chồng bà bị hâm. Nhưng hơn ai hết, bà hiểu chồng mình. Chồng bà đã từng có một thời lầm lỡ đi theo sự cám dỗ của "cái chết trắng". Sau này, thương vợ, yêu con nên ông đã quyết tâm và dứt bỏ được con đường cũ. Nhưng ở quê, nhiều người vẫn không từ bỏ lỗi lầm. Chính vì thế, ông quyết tâm rời bỏ quê hương để mãi mãi tránh xa "con ma" thuốc phiện.

Có lần tôi hỏi, ông ấy chỉ cười bảo: Tôi thích "ngửi gió" đỉnh trời và "ngủ với mây" rồi, coi như không cần ngủ với vợ hai nữa. Nếu bà không chịu được cảnh sống buồn thì bà cứ về quê với gia đình, thỉnh thoảng lên thăm tôi. Tôi sẽ không lấy ai khác ngoài bà".

Hôm nay, chồng bà có việc về quê, bà ở nhà một mình nên gọi những người hàng xóm qua chơi. Nói là hàng xóm, nhưng nhà họ cách nhau cả vài cây số ở trên đỉnh đèo này. Dù vậy, với họ, càng heo hút, càng muốn gắn bó để xích lại gần nhau. Nhờ những con người như họ mà con đèo Pha Đin huyền thoại đã khoác lên mình sức sống mới, sức sống của tình người nơi rẻo cao.

Theo Dương Thu (Người Đưa Tin)
Du lịch, GO!

Đèo Pha Đin hay Dốc Pha Đin là đèo núi có độ dài 32 km nằm trên quốc lộ 6, một phần thuộc xã Phỏng Lái, huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La và một phần thuộc xã Tỏa Tình, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Điểm khởi đầu của đèo cách thị xã Sơn La về phía Tây 66 km còn điểm cuối của đèo cách thành phố Điện Biên khoảng 84 km.

Đèo Pha Đin nổi tiếng đẹp và nguy hiểm. Con đường đèo liên tục những cua dốc dựng đứng và cua tay áo suốt 32km chiều dài. Từ Tuần Giáo đến Thuận Châu là đoạn đèo khó khăn nhất, đang được mở rộng và ăn sâu vào núi. Dưới chân đèo còn lác đác vài bản, lên gần đến đỉnh đèo thì hầu như không còn bản làng nào nữa.

Tuy nhiên, từ năm 2006 đến năm 2009: dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 6 đoạn Sơn La-Tuần Giáo với tổng mức đầu tư hơn 1.165 tỷ đồng đã hoàn tất. Tuyến đường tránh đèo Pha Đin được xây dựng bám theo sườn núi các đỉnh đèo phụ phía trái quốc lộ 6 cũ, có độ cao khoảng 1.000m (thấp hơn đèo Pha Đin 200-400m), đã khiến xe cộ ít lưu thông qua cung đường qua đèo Pha Đin và con đèo chỉ còn phù hợp với khách du lịch ưa mạo hiểm.

Wednesday, December 3, 2014

Lục Thị Đậu: người mở đường ra Mũi Né

(BTO) - “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương” (*), có điều gì đó bâng khuâng khi đi lại con đường Phan Thiết - Mũi Né. Đường xưa, xe ngựa cũ không còn, nhưng khó lòng quên được người  phụ nữ bằng công sức và tiền bạc đã mở con đường này.

Tấm bia đá và người quá cố

“Tôi là Lục Thị Đậu nghiệp chủ, chánh quán Khánh Thiện, trú quán Phú Trinh, ở tại đường Hải Thượng Lãn Ông - Phan Thiết đứng dựng bia này để kể lại cuộc đời dĩ vãng của tôi từ lúc sơ sanh đến lúc trưởng thành...”. Lục Thị Đậu là ai? Vì sao người phụ nữ  họ Lục lại tự dựng bia kể về mình? Bia được lập năm 1958, đến nay gần 60 năm. Thời gian gần phủ mờ tất cả. Một buổi sáng tôi đã không khỏi tò mò để quyết định đi tìm chân dung người đàn bà họ Lục, người mà cha chú của tôi kể: Có nhiều công tích trong việc mở đường Phan Thiết - Mũi Né.

Bất hạnh và bươn chãi

Một ngày  mùa hè năm 1888, khi ấy lịch âm là ngày 26/6. Ở  Khánh Thiện - một làng biển nhỏ của Mũi Né, nhiều người biết chuyện một phụ nữ nghèo, vợ của một người đàn ông họ Lục, từ Chợ Lầu (khi ấy gọi là Phan Lý Chàm) vào gánh cá mướn, vừa sinh đứa con gái.  Con bé nom bụ bẫm, vừa ra khỏi lòng mẹ đã khóc thét, khóc kéo dài. Mẹ con bé muốn dỗ con nhưng  chị ta không còn sức vì không cầm được đường huyết. Một thời gian ngắn sau, mẹ bé gái qua đời. Mất mẹ, không sữa, bé càng khóc. Một phụ nữ đứng tuổi là chị của mẹ bé gái quyết định bồng cháu đi xin sữa, cháo loãng. Thời gian trôi đi. Khi  Đậu được 8 tuổi, người cha, lúc này đã có  vợ mới muốn đưa con gái về nuôi. Thế nhưng chỉ được một  vài năm, Đậu phải xin về lại bên nội vì… như ca dao cổ thường nói: “Mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời mẹ ghẻ mà thương con chồng ”.

< Bà Lục Thị Đậu chụp trước năm 1969.

Năm 1905, Lục Thị Đậu tròn 17 tuổi. Nước da cô đen giòn vì suốt ngày hứng gió biển, nhưng môi lúc nào cũng đỏ mọng, mắt lá răm nhìn ai cứ như thăm thẳm, rõ là thu hút. Đậu còn được trời cho sức khỏe. Tuy cùng  gánh cá như mọi người, nhưng người ta chỉ vài ba gánh đã mệt còn Đậu rõ ràng trên chục gánh vẫn chạy phăm phăm. Những gia đình có con trai trong làng đánh tiếng,  nhờ mối mai hỏi Đậu cho con họ, nhưng bà nội chỉ muốn gả Đậu cho con trai ông Hương Nhu ở làng Thiện Khánh kề bên (Hàm Tiến ngày nay). Ngày Đậu lấy con trai ông Hương Nhu, đám rước đi tới đâu, người ta đổ ra xem đến đó. Ai cũng mừng cho Đậu.

Thế nhưng, đôi vợ chồng trẻ ấy đã đứt gánh chỉ sau một năm vì chồng Đậu không may bị bệnh nặng qua đời. 2 - 3 năm sau,  Lục Thị Đậu  xin về lại với nội. Làng Thiện Khánh năm ấy lại có thêm  đợt người từ các nơi đổ về làm biển. Nhà bên cạnh có anh Lương Trân, lúc nào thấy Đậu cũng  nhìn trân trân. Hàng xóm nói với nội: “Bà ơi, con Đậu nó đứt gánh nửa đường, nay có  người thương bà nên cho nó tái giá”. Nội nghe phải, đồng ý. Năm 1908, Đậu và người thanh niên nhà bên nên duyên chồng vợ. Ngày ra riêng, nội cho Đậu  một quan tiền, một giạ gạo,  dặn hai cháu cố gắng bươn chãi, đùm bọc, thương yêu nhau. Đó là những ngày cực kỳ khó nhọc như bà Lục Thị Đậu kể trên văn bia: “Hết sức nghèo khổ, thiếu trước hụt sau, thậm chí thiếu nợ, ngày nào chủ nợ cũng kéo đến đòi”. Dulichgo

Tạo dựng cơ nghiệp

Đôi vợ chồng trẻ làm đủ việc kiếm sống. 5 giờ sáng cô Đậu  thức dậy. Hai vợ chồng cùng tráng bánh.  Hết bánh quay sang  chiên cá bán chợ chiều. Ông Lương Trân thương vợ làm hết mọi việc nặng nhọc. Ông chỉ có một việc không đồng ý với vợ là cô quá tiết kiệm. Bữa ăn  nhà họ thường chỉ có cá. Cá kho nhiều nước để chấm rau luộc. Có lúc  gần nửa tháng, số cá mua 2 xu  vẫn còn nguyên trong nồi...  Tuy vậy, với bên chồng cũ, hàng xóm láng giềng, cô Đậu  hết sức nhiệt tình, sẵn sàng giúp đỡ người ngặt nghèo, ốm đau.

Bà kể:“ Vợ chồng  hết sức cần kiệm, được 2.000 đồng nhưng phải vay thêm 1.000 đồng… Mẹ chồng cũ cho mượn thêm 300, tổng cộng tất cả 3.300 đồng. Nhờ số tiền ấy, vợ chồng tôi tạo được lều cá đầu tiên, vốn là tài sản của bà Tư  Mũi Né bán lại. Ngay lúc ấy, cha chồng cũ bán chịu cho 2 chiếc ghe cá, gặp lúc cá muối mắm có giá, chúng tôi  càng  cố  làm ăn để thêm phát đạt. Tuy vậy, chúng tôi còn phải tự lực chưa dám mướn người ở. Thí dụ, khi đổ xác mắm phải đợi đến nửa đêm, và phải mướn một ông già với tiền công 2 cắc để ổng  xúc xác (mắm), chuyền cho tôi để tôi đội ra biển đổ”. Bà đã viết như thế về những ngày đầu tạo dựng cơ nghiệp của mình.

Người dân làng Khánh Thiện thấy vợ chồng Đậu chịu khó làm ăn, làm đâu được đó nên tin tưởng bán nợ nước mắm. Đậu chở số nước mắm ấy vào Sài Gòn bán, rồi mua hàng hóa chở về.  Sau khi có tiền thu từ hàng hóa, cô mới đem trả cho người bán  nước mắm ban đầu. Với cách kinh doanh như vậy, dần dà cô Đậu  tích lũy được một số vốn để mở rộng kinh doanh ở nhiều lĩnh vực. Cô Đậu trở nên giàu có nhất nhì xứ Phan Thiết và dân làng thường gọi cô là bà Hòa Chánh (từ đây trở đi, gọi như thế). Bằng tài năng kinh doanh, bà Hòa Chánh  tiếp tục duy trì sự giàu có  từ thập niên 30 đến thập niên 60 của thế kỷ XX.

Bậc nhất xứ Phan

Năm 1932, Phan Thiết được chính quyền thuộc địa chủ trương kiến thiết lại để phù hợp với tính chất là thủ phủ của một tỉnh quan trọng của Trung Kỳ bấy giờ. Khi ấy, chính quyền thuộc địa kêu gọi và hỗ trợ những thương gia, nhất là các thương gia địa phương, mở đường, xây phố, lập chợ... Nhiều phố xá và chợ búa ở Phan Thiết được xây giai đoạn này như: chợ Gò, Đồn, chợ Lớn...

Bà Hòa Chánh từ Mũi Né vào Phan Thiết mua hơn 20 căn nhà phố trên đường Hải Thượng Lãn Ông - đường phố chính của Phan Thiết thời ấy - để cho thuê. Cũng từ đấy, bà chính thức bước chân vào lĩnh vực bất động sản. Đến cuối thập niên 50, tại Phan Thiết, bà Hòa Chánh có hơn 100 căn nhà phố nằm trên các tuyến đường chính, khu thương mại: Lý Thường Kiệt, Nguyễn Thái Học, Nguyễn Hoàng (Lê Hồng Phong ngày nay), Trương Công Định, Yersin, khu chợ củi... Bà cũng vào La Gi mua 30 căn nhà phố ngay tại khu chợ mới. Tại Sài Gòn, bà có 25 căn nhà phố trên các tuyến đường phố chính như: Hùng Vương, Nguyễn Cư Trinh, Bến Chương Dương... và một xưởng cưa tại Gò Vấp. Ở làng Khánh Thiện (Mũi Né) quê hương mình, năm 1962 bà cho xây 20 căn nhà phố lầu đầu tiên. Dãy phố này có thể nói là hiện đại nhất tại Mũi Né thập niên 60 - 70. Không chỉ kinh doanh lĩnh vực đất đai, bà còn là cổ đông lớn của Hãng hàng không Air Vietnam và Công ty Dentaco chuyên kinh doanh máy cày, máy kéo lớn nhất Sài Gòn.

< Đường Mũi Né ngày xưa.

Ngoài ra, quá trình tìm hiểu tư liệu về cuộc đời bà, chúng tôi hết sức bất ngờ về hàng trăm mẫu (hecta) đất đai, ruộng vườn mà bà sở hữu. Đa số đất ấy ở: Hàm Thắng, Hàm Đức, Hồng Sơn, Ma Lâm, Hàm Liêm... Bà Hòa Chánh còn bỏ tiền ra mua đất của Chính phủ rồi khai hoang, vỡ hóa thành ruộng. Bởi vậy bà có một kho lúa rất lớn tại  khu 60 Hải Thượng Lãn Ông mà người dân Phan Thiết thời đó ai cũng biết.

Mở đường, xây trường, hiến tài sản cho kháng chiến

Từ trước thập niên 30 thế kỷ XX, mọi giao thương từ Mũi Né đi các nơi khác chủ yếu bằng đường biển. Do đặc thù Mũi Né là bãi ngang nên tàu thuyền muốn vào Mũi Né chỉ thuận lợi trong 6 tháng mùa gió Nam (nồm), đến mùa gió Bắc (bấc) thì hết sức khó khăn. Đường bộ từ Phan Thiết đi Mũi Né chỉ có đường mòn để đi bộ hoặc đi ngựa. Do đường mòn lắm cát và không an toàn vì trộm cướp nên ít người mạo hiểm đi. Xuất phát từ những lý do đó, bà Hòa Chánh đề xuất chính quyền thuộc địa để bà làm con đường xe hơi từ Phan Thiết đi Mũi Né. Thời đó, thi công chủ yếu bằng sức người, lại thi công trên địa hình gió cát nên phải mất 3 năm sau mới hoàn thành xong tuyến đường gần 20km này. Năm 1922(?), việc khánh thành con đường xe hơi Phan Thiết đi Mũi Né là một sự kiện quan trọng ở Trung Kỳ. Trước hành động nghĩa hiệp này, triều đình Huế ân tặng cho bà Hòa Chánh bốn chữ “Hào Nghĩa Khả Gia”.

Có đường xe hơi rồi nhưng thời đó người dân các làng Khánh Thiện, Thạch Long, Long Sơn (Mũi Né) chỉ có một trường tiểu học công lập.  Chỉ có học sinh nhà khá giả mới có điều kiện vào Phan Thiết ở trọ theo học trung học. Do vậy,  học sinh  học trung học ở Mũi Né rất ít. Thương người dân quê mình, năm 1942, bà Hòa Chánh xây dựng Trường trung học Hải Long rồi giao lại cho chính quyền quản lý. Nhiều thế hệ học sinh Mũi Né, giai đoạn 1942 - 1970 đều nhớ tấm bia ở sân Trường trung học Hải Long, ghi dòng chữ “Bà Lục Thị Đậu phụng cúng”. Nghĩa cử này của bà  được Hoàng đế Bảo Đại ân tặng “Nhị Hạng Long Bội Tinh”. Ngoài ra, không chỉ lập trường học ở Mũi Né, bà còn xây trường tiểu học tại Phú Hài, được chính quyền sở tại cho phép khai khẩn đất đai để xây chùa ở khu vực Lầu Ông Hoàng ngày nay.

Theo tài liệu lịch sử Nam bộ kháng chiến, năm 1945 Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, trong tay là nền tài chính kiệt quệ, kho bạc trống rỗng. Giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm bao vây tứ phía. Hưởng ứng lời kêu gọi “Tuần lễ vàng” trong cả nước từ 17 - 24/9/1945 của Hồ Chủ tịch, tại Bình Thuận, cùng với các bà: Dương Thị Lâu, Nguyễn Thị Thềm, bà Hòa Chánh ủng hộ vàng cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

< Nhà mộ gia đình bà Lục Thị Đậu.

Do không có con nên vợ chồng bà xin một người con  nuôi và đặt tên là Lương Xuân. Vợ chồng bà đồng ý cho  con nuôi duy nhất của mình tham gia kháng chiến. Ông Lương Xuân  là tiểu đội trưởng cảm tử đội Phan Thiết. Năm 1948, trên đường đi công tác, ông  bị mật thám bắt và xử tử tại khu vực xóm Đầm (Bình Hưng, Phan Thiết).

Cả một đời tần tảo, làm giàu cho mình và đóng góp cho xã hội nhiều điều hay, bà Hòa Chánh xứng đáng được người đời ghi nhớ. Bà mất năm 1974, thọ 86 tuổi, được an táng trong phần mộ của gia đình  tại phường Phú Hài (Phan Thiết).

(*): Trích thơ “Thăng Long thành hoài cổ” của Bà Huyện Thanh Quan. Ý nói đến “sự vật đổi sao dời”, không có gì vững bền trước thời gian.

Theo Lê Huân (Báo Bình Thuận)
Du lịch, GO!

Đây là con đường khởi đầu đến một địa danh mà khi ấy ít ai biết đến. Đến năm 1989, đoạn từ Phan Thiết về Mũi Né gần như trở thành một con đường đất đỏ bụi mờ, gian khổ, nhựa bị nứt tách loang lổ. Xe chạy sát bên lề, ì ạch, nghiêng ngả, khách ngồi đã quen thở lên thở xuống, chẳng ai nói gì, rồi đến đoạn đường cát mịn dày xe lún không qua được, hành khách phải xuống bớt, lơ xe lấy 2 thanh gỗ hoặc 2 vỉ sắt để ở hai bánh xe trước, tài xế cố nhấn ga cho xe vượt qua.

Thỉnh thoảng, xe ghé dọc đường bỏ hàng cho quán xá,10 phút một/ lần, xe đi mãi cho đến trời đổ tối thì đến Mũi Né. Hồi đó, chưa có xe ôm. Phương tiện duy nhất là xe than (xe chạy bằng một bình than to để phía đuôi xe được che chắn cho than khỏi bắn vào hành khách), gắn biển giao thông 5 km/giờ. Đó là đường từ Phan Thiết đi Mũi Né nhé, còn từ Mũi Né đi Hòn Rơm thì hoàn toàn chưa có gì; khách muốn đến Hòn Rơm là một vấn đề lớn vì phải vượt rất nhiều đồi cát giữa cái nắng cháy da.

Vậy nhưng đường đi Mũi Né hồi đó đẹp lắm, một bên là đồi cát đỏ, bụi cây xanh lô nhô, một bên là biển rộng nước xanh, sóng vỗ miên man vào bờ, đến những quãng đường không có nhà dân chỉ thấy toàn cát trắng, vài bụi cây cô quạnh màu xanh thẫm, chơ vơ. Hàng cây xương rồng mọc thành mấy lớp chạy suốt theo bờ biển, những cành cây hoang dại nhô ra đường đập vào thành xe.

Rồi sau sự kiện nhật thực năm 1995: Mũi Né như cô công chúa ngủ trong rừng tỉnh giấc, khoác chiếc áo du lịch vội vàng. Cánh xe ôm đông hơn, những con đường mới mở thẳng tắp rộng thênh thang tách đồi cát mênh mông thành con đường tráng nhựa, lề đường lót gạch. Các khu nghỉ dưỡng chạy nối tiếp nhau mang đủ phong cách Âu, Á, Mỹ La-tinh...
Mũi Né đã thay đổi cho kịp trào lưu văn minh hiện đại nhưng ký ức ngày xưa về một con đường của thuở hồng hoang vẫn còn đấy... (Dulichgo)

Nhớ Mũi Né xưa
Nhớ Hòn Rơm... xưa

Sunday, November 30, 2014

Đèo Triệu Hải say lòng dân phượt

Nguyên văn từ Vnexpress là 'Đèo Triệu Hải, cung đường mới làm say lòng dân phượt'. Tuy nhiên, đây thực ra không phải là mới vì có nhiều nhóm phượt hồi năm 2012 đã xuất phát từ Đạ Tẻh đi Tôn K’long (Đạ Pal), qua thủy điện ĐaM'bri... và đích đến là Bảo Lộc. Một trong những chuyến đi đó Điền Gia Dũng mình tóm gọn tại bài 'Đường lên Tôn K’long'.

< Hồ Tâm Châu.

Vậy nhưng đây vẫn là cung đường ít người biết vì chả mấy ai nhắm đến do khó khăn và nhiều hiểm trở. Chính vì vậy nên cung đường này vẫn là chốn đi tuyệt vời và mình xin tổng hợp lại để bạn nào thích thì tham khảo trước khi lên đường. Tôn K’long vẫn còn khó khăn lắm, vậy nên nếu nhóm bạn chinh phục cung đường này xin hãy cố gắng thu xếp một ít quà cho trẻ em tại đây nhé: áo ấm, áo mưa, tập vở, quà bánh... sẽ giúp các bé vui và chính bạn cũng vui lây.

Cung đường đèo Triệu Hải cắt phía Đông phần tiếp giáp rừng Nam Cát Tiên từ Đạ Tẻh lên khu vực thác Dambri, Bảo Lâm, Lâm Đồng. Đây là hành trình đầy khắc nghiệt và thú vị mà dân phượt đã và đang say mê thử thách.

Có hai cách để bạn chinh phục cung đường Triệu Hải. Cách đầu tiên là từ Đạ Tẻh, theo con đường nhựa phẳng phiu hướng thẳng về phía Đông, vượt qua khu vực thác Triệu Hải, vượt khu vực dân cư thuộc xã Đạ Pal, qua các rẫy và đôi cây cầu nhỏ thì bắt đầu vào cung đường nền đất xuyên rừng đi Tôn K’long.

Tôn K’long thuộc xã Đạ Pal, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng. Chỉ cách trung tâm thị trấn Đạ Tẻh 18km nhưng ta phải mất trên dưới 2 tiếng đồng hồ đi xe máy mới lên được nơi cư trú của đồng bào.

Rồi sau đó rời Tôn K’long, theo đường mòn xuyên rừng hướng về ĐạmB'ri sau khi vượt nông trường trà Tâm Châu. Trong mùa mưa, đường từ ĐạPal qua Tôn K'Long hướng về ĐạmB'ri là con đường kinh dị với nhiều dốc đứng, đường trơn và nhiều hố bùn nhão - có địa điểm phải qua ngầm sẽ là mối nguy hiểm thật sự và chỉ dành cho những nhóm off-road có kinh nghiệm luồn rừng (Dulichgo).

Cách dễ hơn (xem ảnh) là từ trung tâm thành phố Bảo Lộc rẽ đường đi thác Dambri, đến ngã ba đi hồ Tâm Châu thì rẽ trái. Từ đây có bảng hướng dẫn đi vào đập thủy điện Dambri.

Từ đồi chè Tâm Châu trở đi đường bắt đầu nhỏ và xấu với nhiều đá hộc lớn. Cung đường này được mở ra nhằm phục vụ cho việc xây dựng đập thủy điện nên sau khi đập hoàn thành đã bị bỏ hoang.

Uốn lượn theo bên dưới là hồ thủy điện với màu xanh kỳ lạ và độc đáo. Màu xanh này được suy đoán được tạo bởi cao lanh, các khoáng chất trong đất đá hòa vào nước hồ dưới tác dụng của ánh nắng mặt trời.

Hồ nằm sâu bên dưới và được che chắn bởi các ngọn đồi cao xung quanh, gió không lọt xuống nên mặt nước hồ phẳng lặng như gương soi. Dân phượt đặt cho hồ một cái tên vui là: “Lục kính hồ” (hồ gương xanh).

Từ hồ đi tiếp hướng về Đạ Tẻh, mọi người sẽ bắt gặp một bãi đá khổng lổ nằm bên trái, được thiên nhiên tạo hình hết sức kỳ vỹ.

Đây là bãi đá vôi hình thành từ nhiều triệu năm trước, theo thời gian bị nước mưa xói mòn tách ra xuất hiện nhiều khe vực sâu.

Từ đây trở đi, 'đường' bắt đâu nhỏ hẹp nhưng khung cảnh cũng nên thơ và hoang liêu hơn rất nhiều. Những hàng lau cao vút quá đầu người cứ vây quanh uốn lượn theo các cung đường càng làm tăng sự hưng phấn và ý chí tuổi trẻ.

Nhưng niềm vui thưởng thức không kéo dài lâu, đường bắt đầu ngập trong sình lầy. Và những con suối với bờ dốc lên cao khiến nhiều đoạn phải khiêng xe để vượt qua.

Tay lái lúc nào cũng phải gồng cứng, tâm lý căng như dây đàn để chắc chắn không có sai sót. Sự cố có thể đến bất cứ khi nào trên đường nhưng đi phượt theo nhóm sẽ được mọi người hỗ trợ nhiệt tình để cùng nhau tiếp tục hành trình.

Càng về sau cung đường càng khó, dốc càng cao bánh xe lọt thỏm xuống những khe hẹp do bùn đóng khô tạo thành. Hết bùn khô lại đến sình dày đặc, xe ngập trong sình không thể nào chạy được, mọi người phải cùng nhau khiêng từng chiếc một.

Đối với các thành viên là những người đã có nhiều năm kinh nghiệm đi phượt cũng như chinh phục các cung đường hiểm trở, thế nhưng chuyện trượt bánh té vẫn xảy ra thường xuyên.

Sau hơn 3 giờ rưỡi vượt qua đoạn đường chỉ chừng 40 km dường như đã lấy hết sức lực của đoàn phượt.

Sau những phút giây mệt mỏi trên con đường chinh phục, Triệu Hải cũng ban tặng món quà thú vị cho những kẻ lữ hành. Chính là cảm giác được khám phá và vẫy vùng trong làn nước mát của thác Xuân Đài cách đó không xa.

Hành trình chinh phục cung đường đèo Triệu Hải thật sự là một trải nghiệm thú vị để bạn học hỏi nhiều kỹ năng như giải quyết khó khăn, xử lý sự cố và hơn cả là tìm ra các giá trị tiềm ẩn trong chính bản thân mình cũng như tận hưởng thành công.

Theo Quỷ Cốc Tử (Vnexpress)
Du lịch, GO!

Tôn K’Long được thành lập vào năm 2000 theo dự án giãn dân của UBND tỉnh Lâm Đồng. 284 hộ đồng bào gốc địa phương (K’Ho) ở các xã và thị trấn Đạ Tẻh thuộc huyện Đạ Tẻh được đưa lên Tôn K’Long để định canh định cư nhưng do khó khăn và trắc trở về đường xá nên số dân giảm dần. Tôn K’Long được chia thành hai thôn là Tôn K’Long A và Tôn K’ Long B. Để leo lên được những đoạn đường dốc, các vũng sình lầy bánh xe phải mặc áo xích, người lái xe phải có tay lái cừ.

Do đường sá đi lại có nhiều bất cập nên sản lượng nông sản do bà con làm ra như cà phê, chè, điều… thường bị các thương lái ép giá. Thầy giáo lên dạy chữ cho con em đồng bào cũng chẳng mặn mà với vùng đất mới. Năm 2011, UBND huyện và UBND xã Đạ Pal đã đầu tư gần 1 tỷ đồng để đổ đá, sửa lại đường cho bà con. Tuy nhiên, do chất đất đỏ bazan vừa mềm vừa dẻo lại dính cộng thêm các xe chở gỗ ra vào thường xuyên nên con đường vẫn còn lầy. Đường lên Tôn K’ Long là đường liên xã, kế hoạch về mở rộng con đường, làm lại đường mới cho bà con đã được đề xuất lên cấp trên nhưng vẫn chưa được triển khai vì còn chậm về nguồn vốn nên đành phải chờ (Dulichgo)...