Sunday, November 2, 2014

Tiên Phước - những tiềm năng du lịch

Từ xưa, người dân Tiên Phước đã có câu:
Sông Tiên nước chảy ngược dòng
Ai ơi tới đó cho lòng vấn vương.

Vấn vương không chỉ bởi nơi đây là vùng đất giàu truyền thống văn hóa, truyền thống cách mạng, là địa bàn xung yếu trong các phong trào yêu nước của các sĩ phu đất Quảng, mảnh đất của cách mạng Quảng Nam và khu V qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ xâm lược... mà vấn vương bởi vùng quê vốn nghèo khó ấy đã sinh ra và nuôi dưỡng các bậc đại khoa, các nhà chí sĩ cách mạng hết lòng vì nước thương dân. Những con người bình thường, dung dị, chân chất nhưng rất đỗi khẳng khái, kiêu hùng trước mọi sức mạnh đối kháng, những con người đã tạc nên lòng tự hào, tự tôn của bao thế hệ người dân Tiên Phước.

Chạm mặt Tiên Phước hôm nay, ắt hẳn du khách sẽ không khỏi ngỡ ngàng bởi vẻ đẹp thiên nhiên và diện mạo đổi thay của vùng nông thôn mới, hứa hẹn là điểm dừng lý tưởng cho bước chân du khách. Điều đầu tiên đập vào mắt du khách là hình ảnh những cánh đồng bậc thang chấp chới cánh cò giữa miên man đồi núi.

Trên bức tranh thiên nhiên hiền hòa ấy, những vườn đồi, vườn nhà hiện lên như những nốt nhấn sinh động. Có thể nói, miệt vườn vùng trung du Tiên Phước là một trong những nét độc đáo của vùng quê này so với các nơi khác.

Phần lớn những vườn cây ăn trái ở xứ Tiên tỏa bóng trên những vườn nhà bao phủ xóm làng. Và trong những khu vườn ấy, người dân trồng rất nhiều loại cây, tạo thành một thảm thực vật thu nhỏ ngay trong chính tổ ấm của mình.

Vườn ở Tiên Phước gồm nhiều chủng loại cây trái đặc trưng của xứ Quảng như bòn bon, thanh trà, măng cụt, hồ tiêu, cau, quế... Những lúc vào mùa, du khách đến đây sẽ vừa được tham quan vườn cảnh vừa được thưởng thức dư vị ngọt ngào của cây trái. Tiên Phước còn là quê hương của những thắng cảnh đẹp.


Đến Tiên Phước để một lần được đắm mình trong dòng chảy lạ kỳ của dòng sông Tiên miền man chảy ngược, thắm xanh bao bờ bãi. Từ Lò Thung, ngược dòng qua thị trấn Tiên Kỳ ghé về làng Hội An, Tiên Châu, du khách vừa được thăm thú các ngôi nhà cổ độc đáo vừa chiêm ngưỡng màu xanh bao la của rừng thông caribe lẫn trong tiếng vi vu của gió ngàn, tiếng thác chảy xa xa...

Tuy nhiên, điểm du lịch độc đáo nhất của Tiên Phước là không gian văn hóa làng cổ Lộc Yên, cách thị trấn huyện lỵ chỉ hơn 15 phút ô-tô. Chỉ một lần, một khoảnh khắc thực sự sống trong không gian ấy chúng ta sẽ cảm nhận được dư âm mặn mà, tha thiết của một vùng đất còn chứa đựng trong nó bóng hình của quá khứ. Đó là vẻ đẹp của những lối đi, vách ngõ, tầng bậc trong vườn như được “cắt tỉa” từ đá. Đá phẳng phiu, tự tại phơi sương với trăng gió núi ngàn đủ sức viết nên những cung trầm sâu lắng, mãnh liệt.

Không chỉ ở Lộc Yên (Tiên Cảnh), Hội An (Tiên Châu) mà rải rác ở các làng quê Tiên Mỹ, Tiên Hiệp, ta vẫn có thể bắt gặp những ngôi nhà cổ độc đáo về không gian kiến trúc và tinh xảo trong nghệ thuật chạm trổ từ gỗ mít vườn. Bàn tay tài hoa của các nghệ nhân phường mộc Vân Hà đã thổi hồn vào từng thớ gỗ, biến những cấu kiện thô cứng ấy trở thành những tác phẩm nghệ thuật sống động, tinh anh.

Có thể nói người dân Tiên Phước gìn giữ những ngôi nhà cổ như gìn giữ một cái gì đó rất thiêng liêng chứ hoàn toàn không chỉ giá trị vật thể.

Cụ Nguyễn Huỳnh Anh (chủ nhân một ngôi nhà cổ tại làng Lộc Yên - Tiên Cảnh) đã từng 2 lần từ chối lời đề nghị mua nhà của Tổng thống chế độ Sài Gòn cũ với giá cao “ngất ngưỡng” - hành xử đó của cụ là gì nếu không nói là vẻ đẹp trong văn hóa ứng xử của người dân Tiên Phước.

Người dân Lộc Yên còn lưu giữ khá nguyên vẹn 8 ngôi nhà cổ đẹp và tinh xảo, cùng với nó là những vật dụng đẹp mắt và bí ẩn như chiếc bàn xoay nổi tiếng...

Tiên Phước, mảnh đất phía Tây xứ Quảng tự hào là nơi sinh ra và lớn lên của nhà chí sĩ cách mạng, Quyền Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - cụ Huỳnh Thúc Kháng.

Ngôi nhà cổ hàng trăm năm tuổi tọa lạc tại làng Thanh Bình nơi cụ Huỳnh từng sinh sống đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia. Cũng chính tại nơi đây đã diễn ra cuộc gặp gỡ lịch sử giữa 3 nhà ái quốc Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Phan Bội Châu luận bàn con đường cứu nước.

Nhìn lại những di vật, di ảnh, bút tích và những tư liệu một thời gắn bó với nhà cách mạng, lòng người không thôi suy tưởng về cuộc đời của nhà báo- nhà văn- nhà yêu nước. Thành kính thắp một nén nhang tưởng nhớ, tri ân bậc tiền bối hết lòng vì nước, vì dân để thấy lòng mình được thảnh thơi, tạm quên đi những tất bậc của cuộc sống, âu cũng là việc nên làm...

Đến Tiên Phước để được tắm mình trong không gian êm ả của làng quê, trải lòng cùng với cái chơi vơi của núi rừng, với mênh mông bát ngát giữa vô tận ruộng đồng, để cảm nhận cái nồng say của tình đất, tình người. Bấy nhiêu đó thôi cũng đủ để quyến rũ bước chân du khách.

Tuy nhiên, những tiềm năng du lịch Tiên Phước vẫn chưa được đánh thức, những cuộc thăm thú của du khách đến với vùng đất này vẫn còn mang tính nhỏ lẻ, tự phát, so với những gì Tiên Phước đáng phải có. Người dân nơi đây vẫn hồn hậu, đon đả tiếp khách với tất cả những sản vật sẵn có mà không hề biết đến một khoản phí dịch vụ nào.

Được biết đến nay, Tiên Phước đã thực hiện thành công đề tài khoa học “Thực trạng và giải pháp bảo tồn phát huy giá trị không gian văn hóa nhà cổ Lộc Yên, Quảng Nam”; Xây dựng Đề án bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, danh thắng giai đoạn 2011- 2020; Hoàn thành Quy hoạch phát triển Du lịch huyện Tiên Phước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; ngành chức năng ở huyện cũng đã tổ chức sưu tầm vốn văn nghệ dân gian, hiện vật văn hóa dân gian, lịch sử cách mạng...

Đây là những cơ sở bước đầu để Tiên Phước có thể “biến di sản thành tài sản”, biến tiềm năng thành lợi ích vật chất. Hy vọng tương lai không xa, du lịch xứ Tiên sẽ trở mình thức giấc, dang tay mời gọi khách thập phương.

Theo Kim Thiện (CAND TP Đà Nẳng)
Du lịch, GO!

10 loài cây độc nguy hiểm trên đường phượt

(VNE) - Trang bị cho mình chút kiến thức về cỏ cây sẽ giúp bạn thỏa sức với thiên nhiên trên đường đi du lịch mà không lo bị nhiễm độc, đặc biệt với những loài hoa rực rỡ của cây lá ngón, lá han, đủng đỉnh, trúc đào, thiên điểu...

Cây lá ngón

Đứng đầu bảng trong các loài cây độc và có rất nhiều ở vùng rừng núi phía Bắc là cây lá ngón. Loài cây này có hoa rất đẹp, nở màu vàng cam rực rỡ nên nhiều người nếu không biết sẽ thích thú ngắt hoa chụp ảnh. Tuy nhiên, chỉ cần ngắt lá, bẻ cành, để chất nhựa độc dính vào tay rồi vô tình tiếp xúc với đồ ăn, vết thương hở, lập tức các độc tính sẽ gây ra triệu chứng khát nước, đau họng, chóng mặt, hoa mắt, buồn nôn dẫn đến chết rất nhanh do ngừng hô hấp.

Nước của rau má tươi nguyên cây rửa sạch và giã nát có thể giải độc lá ngón, hoặc giã nhỏ cây rau muống lấy nước uống.

Cây lá han

Cây lá han mọc tại các bụi rậm, bờ sông ở vùng rừng núi phía Bắc và Tây Nguyên. Lá han thân gỗ, lá to bản, có răng cưa. Đặc trưng của lá là chứa chất làm ngứa rất mạnh. Phương ngôn có câu: “Ngứa như phải lá Han”, khi chạm vào lá cả cơ thể sẽ bị phát ngứa, lở loét và buốt thấu da thịt. Với những người da mỏng, nếu đụng phải loại han voi còn có thể gây dị ứng tới mức tử vong.

Cây lá han khá dễ nhận dạng. Nếu chẳng may bị lá cây này gây ngứa, bạn chỉ được lấy nước rửa nhẹ, không được gãi để tránh trầy xước da, có thể gây nhiễm trùng.

Cây trúc đào

Là loài cây kịch độc gây tử vong nhưng trúc đào lại được trồng rất nhiều trên các con phố. Trúc đào là loại cây bụi, thân gỗ, dễ trồng và dễ lên, hoa có màu rất đẹp như trắng, vàng, đỏ thắm, hồng, nở thành từng chùm đẹp mắt. Ăn phải trúc đào có thể gây ra các triệu chứng buồn nôn và nôn mửa, tiết nhiều nước bọt, loạn nhịp tim dẫn đến tử vong. Nhựa trúc đào có thể gây tấy rát da, sưng, tấy rát mắt nghiêm trọng.

Khi có triệu chứng nhiễm độc trúc đào, cần lập tức tìm đến cơ sở y tế gần nhất để được rửa ruột.

Hoa thiên điểu

Thiên điểu hay hoa chim thiên đường là loại cây cảnh được nhiều khu du lịch và gia đình trồng. Hoa thiên điểu rất đẹp với sắc cam ánh tím, tựa đầu chú chim thiên đường kiêu hãnh ngẩng cao đầu.

Tuy nhiên, loài hoa này sẽ khiến bạn buồn nôn, tiêu chảy khi tiếp xúc qua đường miệng và nếu đứng lâu ngửi hoa sẽ gây cảm giác khó chịu.

Cây đủng đỉnh

Loại cây ra quả chùm khá đẹp xuất hiện ở khắp mọi miền đất nước. Ngoài Bắc gọi là cây Móc, miền Trung là cây Đồng Đình và trong Nam gọi là Đủng Đỉnh.

Cây mọc khá cao và lá không có lông ngứa, cây lá của đủng đỉnh dùng được trong rất nhiều việc nhưng chùm quả lại gây ngứa vô cùng nếu bạn nhỡ tay hái xuống.

Khi bị ngứa bởi quả của đủng đỉnh, hãy dùng khăn khô hơ lửa nóng, lau đều và không được gãi.

Cây sơn

Tục ngữ có câu “Sơn ăn tùy mặt” để chỉ về cây sơn, một loài cây được trồng rất phổ biến ở nước ta (nhất là vùng Phú Thọ), có nhựa được dùng để chế biến sơn ta. Chất laccol trong sơn ta gây dị ứng mạnh đối với da. Những người có cơ địa dị ứng chỉ đi ngang qua cây hay ngửi thấy đã bị lở sơn và lở nặng, bỏng rát, khó chịu.

Chữa lở sơn cần tránh rửa nước lã, tránh gãi hoặc chà xát lên chỗ da bị tổn thương.
Có thể dùng lá khế tươi giã nát đắp lên; chấm nước chè tươi, nước lá bàng, hoặc nước muối sinh lý (0,9%) vào vết thương; dùng lá sen khô, sắc lấy nước đặc rửa chỗ lở sơn mỗi ngày 2-3 lần.

Cây ngót nghẻo

Loại cây được trồng ở các khu rừng ngập mặn ven biển, trải dài từ Huế đến Cà Mau có hoa đẹp rực rỡ nhưng có độc tính cao. Cây ngót nghẻo thân thảo dài 1-2 m, lá hình mũi mác, trái hình chuỳ dài, chứa nhiều hạt, khi chín có màu đỏ tươi. Mùa hoa vào tháng 5 tháng 6, mùa quả từ tháng 6 đến tháng 8.

Cây ngót nghẻo độc nhất ở rễ củ, chỉ cần 5mg cho 1kg thể trọng cũng đủ gây chết rất nhanh. Ngộ độc gây đau rát miệng, khát nước sau đó nôn, buồn nôn dữ dội, đau bụng và tiêu chảy, tiêu máu nặng dẫn tới truỵ tim mạch, rối loạn tri giác, co giật, suy hô hấp, tiểu máu, thiểu niệu.

Cây sui

Hay còn được gọi là cây thuốc bắn, mọc hoang tại một số vùng núi phía Bắc. Trước kia, các thợ săn dân tộc ít người ở miền núi đã biết dùng nhựa của loài cây này tẩm vào mũi tên săn thú rừng, chỉ cần một phát trúng đích thì ngay cả một con bò rừng cũng không có cơ hội sống sót. Vỏ cây sui được làm chăn đắp hay may quần áo, hoặc làm túi đựng các đồ vật.

Bị nhựa sui bắn vào mắt sẽ gây viêm sưng đến mù lòa. Nếu nhựa dính vào vết thương hay trên da bị trầy xước lập tức ngộ độc. Khi đi rừng, nếu bị nhựa sui bắn vào mắt hay dây vào vết thương, cần nhanh chóng rửa sạch, khẩn trương đưa đi cấp cứu.

Cây sừng trâu

Một loại cây thuộc họ trúc đào Apocynaceae, hoa rất đẹp, quả ngộ nghĩnh như chiếc sừng trâu, nhưng độc tính thuộc loại mạnh. Cả lá, rễ, hạt và nhựa đều độc.

Nhựa cây sừng trâu thường được trộn với nhựa cây thuốc bắn để tẩm vào mũi tên săn thú. Khi ngộ độc, người bồn chồn vật vã, nôn kéo dài gây hội chứng mất nước và rối loạn điện giải, hoa mắt chóng mặt, nhức đầu, ù tai thở khó, mắt mờ dần và nhịp tim rối loạn, lúc nhanh lúc chậm, triệu chứng rầm rộ. Nếu không cấp cứu kịp thời có thể tử vong trong vòng 48 giờ.
Bị ngộ độc cần khẩn trương gây nôn, rửa dạ dày, cho uống thuốc tẩy, nằm nơi thoáng, yên tĩnh và truyền dịch, tiêm thuốc trợ tim...

Cây bồng bồng

Bồng bồng có hoa to, đẹp và mọc rất nhiều ven đường các tỉnh miền Trung. Nhựa của nó với liều thấp sẽ gây nôn, liều cao gây độc mạnh như nhức đầu, chóng mặt, sốt, nổi ban khắp người, yếu sức sẽ bị ép tim, ngủ lịm, khó thở.

Theo Yutaka (Vnexpress)
Du lịch, GO!

Êm đềm Suối Đá Ayun Pa

Theo tỉnh lộ 668 hướng về phía Tây, cách trung tâm thị xã Ayun Pa 10 km, địa phận xã Chư Băh, là điểm vui chơi, giải trí Suối Đá (Thác Dốc). Trong thật tế: Suối Đá gồm cả Suối Đá 1 và Suối Đá 2, cách nhau khoảng 3 km nên thường gọi chung là Suối Đá.

Xuất phát khoảng 10 giờ sáng từ thị trấn huyện, đi xe khoảng 15 phút trên con đường đất hoang sơ và để xe lại bìa rừng, khách lội xuống các bậc đá khoảng chừng 1km là gặp con suối chảy qua các ghềnh đá nhấp nhô tạo thành một khung cảnh rất đẹp, nên thơ.

Từ trên núi cao, dòng nước len theo sườn dốc đổ về tạo thành con suối cao hơn 6 mét, rộng 10 mét phun nước trắng xóa. Dưới chân thác, các tảng đá bị bào mòn theo thời gian nổi lên như những quả trứng gà, những hình thù kỳ bí, độc đáo.

Từ thượng nguồn đi dọc về phía hạ nguồn, có nhiều phiến đá bị dòng thác bào mòn tạo ra các bậc cấp tự nhiên, mặt đá bào phẳng như những chiếc bàn nhiều kích cỡ, không chiếc nào giống chiếc nào được nhiều du khách chọn làm nơi nghỉ ngơi, thư giãn.

Hai bên suối, người làm du lịch thiết kế nhiều chiếc chòi dân dã, xinh xắn lơ lửng trên những chạc cây to. Chòi làm bằng gỗ lợp tranh càng thêm vẻ hoang sơ. Một chiếc cầu treo dài hơn 50 mét chênh vênh giữa hai ngọn núi làm nơi du khách thưởng ngoạn phong cảnh từ trên cao. Dọc các lối đi, nhiều loài hoa dại tranh nhau đua sắc tạo nên các gam màu bắt mắt.

Vào mùa mưa, nước lớn nên phong cảnh nơi đây càng hùng vĩ, tiếng nước đổ âm vang cả núi rừng trong khi mùa khô nước ít, du khách có thể đi lại dưới suối và có thể câu cá thư giãn. Nơi đây còn hấp dẫn các bạn trẻ thích khám phá bằng hành trình xuyên rừng, hòa mình vào thiên nhiên, nghe chim hót và thác nước vang vọng.

Cũng như Suối Đá 1, Suối Đá 2 là điểm mới được phát hiện và hình thành điểm tham quan, du lịch do một hộ tư nhân đăng ký với xã để đầu tư, quản lý nằm trong chuỗi du lịch Suối Đá.

Nơi đây cũng là đá với đá, chung quanh là rừng khộp thưa thớt. Không biết, có ngụ ý gì với khu thiên nhiên kỳ thú này, người quản lý khu Suối Đá 2 đã sưu tầm mấy chục cái cối đá cũ đem về trưng bày ngay cổng vào khu du lịch. Mùa này Suối Đá 2 nước còn đục, chảy rì rào qua bao ghềnh đá. Phía trên có một thác nước phủ toàn đá, cao độ 3 mét.

Những dòng nước bạc rơi như pháo hoa trông thích mắt. Phía dưới thác là một vực thẳm khá sâu, người ta bắc một chiếc cầu treo bằng tre nứa chông chênh khiến ai đi qua cũng rùng mình. Nhưng đó là cảm giác thú vị khi con người muốn khám phá tự nhiên.

Trong các dịp lễ, rất nhiều người, nhất là học sinh chọn Suối Đá làm nơi nghỉ ngơi vui chơi, sum họp. Không chỉ người dân khu vực Đông Nam tỉnh biết đến cảnh quan Suối Đá, mà khách thập phương cũng tìm đến. Cái đẹp tự nhiên là một vốn quý của tạo hóa mà con người cần biết tôn trọng, giữ gìn, kể cả người quản lý và khách du lịch, tham quan.

Ngày nay khi nền văn minh nhân loại đạt đến đỉnh cao thì con người lại muốn tìm về với thiên nhiên, sống hòa hợp, gắn kết hơn với những gì vốn có. Ayun Pa đang phấn đấu để khai thác tốt nhất những gì mình đã và đang có.

Nằm khỏa thân nghìn năm bên suối,
Đá lặng thầm úp mặt giấu tên.
Dấu chân ai bên đời đánh thức,
Mắt nai nhìn đá hát khúc thiên thai.

Du lịch, GO! tổng hợp từ Báo Gia Lai

Ayun Pa - Một vùng thiên nhiên kỳ thú

Saturday, November 1, 2014

Kỳ lạ tổ mối khổng lồ được làng bảo vệ

Theo các cao niên làng Khiêng (xã Hạ Trung, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá) kể lại, tổ mối có từ rất lâu rồi, khi nhỏ các cụ đã được nghe ông bà kể lại và khuyên răn phải bảo vệ, thành kính và không được mạo phạm tới tổ mối, nếu có thái độ bất kính tới tổ mối thì sẽ bị thần linh trách phạt.

< Ông Trương Văn Tý - trưởng thôn làng Khiêng - dẫn phóng viên tới tổ mối hơn trăm tuổi.

Ngày trước, tổ mối cao tận 4m chạm vách đá, đường kính nhiều người ôm mới xuể, nhưng từ khi có đoàn khảo cổ về khai quật, chim muông bay đi hết, tổ mối cũng sụt dần, giờ chỉ còn khoảng 2m…

Lời kể của già làng về tổ mối hơn trăm tuổi

Trong chuyến công tác tại huyện miền núi Bá Thước, một huyện phía Tây của xứ Thanh, đi qua địa phận di tích Mái Đá Điều (di tích văn hoá cấp tỉnh) thuộc xã Hạ Trung, huyện Bá Thước, chúng tôi không khỏi tò mò, ngạc nhiên trước sự hiện hữu của một tổ mối khổng lồ có hình thù như phần đầu của một con voi. Chiều cao của tổ mối hơn 2m, đường kính khoảng 3 người ôm, có nhiều lỗ hốc kỳ lạ, phía trên tổ mối là phiến đá vôi hình dạng của một con cá, phía sau là một ban thờ, cùng nhiều hòn đá kỳ dị được bày biện… Một người dân nơi đây cho biết, “các anh nên đến nhà cụ Háp cao niên của làng Khiêng để hỏi, chúng tôi sinh ra thì tổ mối đã có rồi. Cũng chớ có mạo phạm vì tổ mối được cả làng bảo vệ và rất linh thiêng!”.

< Cụ Háp (trái) kể về sự linh thiêng của tổ mối.

Theo sự chỉ dẫn của người dân, chúng tôi tìm tới nhà cụ Trương Văn Háp (83 tuổi), trước mắt chúng tôi là ngôi nhà sàn được dựng trên một khu đất cao, cây cối um tùm, yên ắng. Từ khung cửa sổ nhà sàn, cụ Háp ngó đầu ra rồi nhanh nhẹn mời khách lên nhà uống nước. Căn nhà rộng rãi được bày biện giản dị, góc trái để chăn màn và đôi chiếu là nơi cụ Háp và mấy đứa cháu nghỉ ngơi, bên phải là chiếc chiếu và đôi chăn gối của vợ chồng anh con cả. Chính giữa nhà là một chiếc tủ dài (thay cho vị trí bếp lửa thường thấy ở các nhà sàn người Thái), hóa ra khu bếp núc đã được gia đình cụ tách riêng để vệ sinh và giữ gìn căn nhà không bị tro bụi bám bẩn…

Thấy chúng tôi tò mò quan sát, cụ bảo cách bố trí đồ vật, vật dụng trong nhà sàn giờ khác trước nhiều rồi. Người Thái, người Mường, người Kinh sống xen lẫn nên văn hoá cũng bị ảnh hưởng, pha trộn của nhau. Cười vồn vã, cụ mời chúng tôi uống cốc nước chè (thứ lá do chính tay cụ hái và hãm, rất tốt cho sức khoẻ). Rồi không để khách chờ lâu, cụ Háp lý giải cho chúng tôi nghe về tổ mối linh thiêng được cả làng bảo vệ.

“Muốn nắm rõ về tổ mối thì phải hiểu rõ văn hoá làng Khiêng”, cụ nói. Hớp ngụm trà nóng cụ kể, ngày trước nghe ông bà kể lại, làng Khiêng hễ có công việc gì như ma chay, cưới hỏi, cúng bái thần linh là người dân trong làng không được sử dụng những hình thức như mang vác, bưng bê lễ vật mà chỉ được phép “khiêng”, điều đó nói lên sự đoàn kết của người dân trong làng. Theo cha ông kể lại, ở phía dưới tổ mối có chôn cất một con voi đá, người dân làng Khiêng đã khiêng tới đó chôn rồi thờ cúng. Về sau, tổ mối hình thành và cứ ùn ùn mọc lên, mang hình thù đầu một con voi. Cũng từ tục lệ “khiêng” đó mà ngôi làng có tên gọi như bây giờ.

Theo cụ Háp, cụ cũng không biết tổ mối hiện đang tồn tại có từ bao giờ vì kể từ khi còn nhỏ cụ đã được nghe cha mẹ, ông bà kể lại và dạy rằng, mỗi khi đi chăn trâu gần Mái Đá Điều, tuyệt đối không được mạo phạm đến tổ mối, bất kính hay nghịch phá, hễ ai đi qua, bất kể người trong làng hay từ nơi khác đến, cũng phải nghiêng nón cúi chào. “Từ thời phong kiến, tại hang Điều này, bọn thống lý, bọn lang đạo… thường hay tụ tập bài bạc, đàn đúm nhưng không một kẻ nào dám mạo phạm tới tổ mối”, cụ Háp cho biết thêm.

Hàng năm, vào ngày 15 tháng giêng âm lịch, nhân dân xã Hạ Trung tổ chức lễ hội tái hiện lại những trò chơi dân gian, diễn xướng… nhằm tỏ lòng thành kính với các bậc thần linh và cũng là cầu mong cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi.

Là nơi phát hiện nhiều ngôi mộ cổ

Cụ Háp cho biết, khu di tích Mái Đá Điều với tổ mối hơn trăm tuổi cũng là nơi các nhà khảo cổ học phát hiện nhiều ngôi mộ cổ với những bộ xương người, xương động vật và công cụ thời đồ đá. Khó hiểu trước những hiện tượng kỳ lạ tại tổ mối, ông Trương Văn Hiên - Bí thư chi bộ làng Khiêng - cho biết: Kể từ sau khi các đoàn khảo cổ học về khai quật, từ một vùng cây cối um tùm với nhiều muông thú, sau khi phát quang, khai quật, chim chóc, động vật nơi đây biến mất không còn xuất hiện. Riêng tổ mối cũng thay đổi, từ một tổ mối khổng lồ cao hơn 4m chạm Mái Đá Điều bỗng bị sụt dần xuống, nay chỉ còn hơn 2m. “Nhiều lần, các nhà khảo cổ học về cũng có ý định khai quật phía dưới tổ mối để xem thực hư truyền thuyết chôn tượng voi tại đó. Tuy nhiên, do ảnh hưởng tới tâm linh cũng như không được sự đồng tình của người dân làng Khiêng khi mạo phạm đến di tích nên vẫn giữ nguyên trạng cho tới ngày nay”, ông Hiên cho biết thêm.

< Di tích khảo cổ học Mái Đá Điều.

Trao đổi với ông Lê Hùng Chúc -Trưởng phòng Văn hoá huyện Bá Thước - về khu di tích Mái Đá Điều, ông Chúc cho biết, di tích được phát hiện vào một ngày tháng 5.1984. Ông Trương Ngọc Cơ (làng Chiềng Ai, xã Hạ Trung) một lần vào tránh nắng đã nhặt được đồ vật giống như chiếc hài của người con gái và một vật giống như nửa quả tim con người. Lấy làm lạ, ông Cơ đã viết thư cho Viện khảo cổ học Việt Nam.

Đến năm 1986, các nhà khảo cổ học Việt Nam và Bungari đã tiến hành thăm dò khai quật 2 hố có diện tích rộng 24m, tầng văn hoá dày 3.5m. Dấu tích tìm thấy bao gồm: 2.082 di vật bằng đá; 664 mảnh xương động vật có xương sống; 285 càng cua, 6.165 vỏ trai ốc, 16 mộ táng (hài cốt người). “Từ năm 1984 đến nay, các đoàn khảo cổ học thuộc Viện Nghiên cứu khảo cổ học Việt Nam và thế giới đã tiến hành khai quật 3 lần, lần mới nhất vào tháng 6.2014. Hiện nay, 2 hộp sọ này đang được trưng bày tại Viện Khảo cổ học và được đánh giá là một trong những di chỉ quan trọng để nghiên cứu về cổ nhân học”, ông Chúc cho biết thêm.

Hiện tổ mối nằm trong khu vực di tích Mái Đá Điều tọa lạc giữa một bên là núi đá và một bên là cánh đồng nơi có hang Trâu, hang Lắn. Đặc biệt, nơi đây đồng bào dân tộc Mường vẫn giữ được mái nhà truyền thống và nghề dệt thổ cẩm, cảnh vật xung quanh hùng vĩ, nên thơ, nếu khai thác tốt sẽ trở thành điểm đến hấp dẫn khách du lịch. Tuy nhiên, hiện nay di tích cũng như tổ mối linh thiêng vẫn chưa được chú trọng bảo vệ, cỏ dại mọc um tùm, xung quanh di tích và khu tổ mối chỉ được bảo vệ bằng hàng rào tre, luồng sơ sài.

Theo Đình Giang (Báo Lao Động)
Du lịch, GO!

Lũng Vân – Nóc nhà xứ Mường

(BAVN) - Là địa danh nổi tiếng trong bốn xứ Mường cổ đất Hòa Bình (Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động), Lũng Vân (huyện Tân Lạc, Hòa Bình) được ví như Nóc nhà xứ Mường bởi cảnh sắc đẹp và còn giữ được nhiều nét sinh hoạt truyền thống của người Mường.

< Khoảng thời gian từ tháng 5  đến tháng 7 trong năm, khi những cơn mưa rừng ập đến Lũng Vân, xuất hiện hàng trăm con suối, thác nước từ trên núi cao đổ xuống tạo nên cảnh sắc tuyệt đẹp ở đây.

Truyền thuyết “Đẻ đất Đẻ nước” của người Mường ở Hòa Bình kể rằng, xưa Lũng Vân là nơi có những bản làng đang sinh sống yên bình. Một cơn hồng thuỷ ập đến bất thần trong đêm tối đã cuốn trôi hết tất thảy nhà cửa, bản làng, người dân, trâu bò và nhấn chìm cả rừng núi.

< Những cây Bi trong truyền thuyết "Đẻ đất, Đẻ nước" của người Mường hiện còn mọc rất nhiều ở Lũng Vân.

Có đôi vợ chồng nhà nọ bám được một chiếc bè luồng rồi vướng vào cây Bi – một cây cổ thụ khổng lồ, rễ cây ăn xuyên qua chín sông mười núi nên vẫn vững vàng trong cơn hồng thuỷ. Cơn hồng thuỷ rút cũng là lúc tất cả trở nên hoang xơ.
Không còn đường về, họ dựng lều ở ngay dưới gốc cây Bi để ở và sinh con đẻ cái, phát rừng làm nương, cày cuốc thung lũng thành ruộng bậc thang, làm cọn (guồng) để lấy nước, thuần phục thú rừng thành vật nuôi, lập nên mường bản.

< Những thửa ruộng bậc thang ở Lũng Vân được ví như “Gương trời xứ Mường”.

Nhớ ơn cây cứu mạng, họ lấy tên cây đặt cho tên mường, hình thành nên vùng Mường Bi ngày nay, một vùng núi rừng rộng lớn bao gồm nhiều xã thuộc huyện Tân Lạc. Lũng Vân là vùng đất nơi cây Bi mọc trong truyền thuyết và cũng là nơi sinh sống cao nhất của Mường Bi.

Trong ghi chép về tập tục văn hóa các vùng Mường, Nhà văn hóa Phan Cẩm Thượng ghi rằng: “Đường đi hiểm trở đèo dốc, nếu không có phương tiện cơ giới, thì người ta chỉ có cách thồ hàng bằng gùi, không được bao nhiêu, ít người xuôi lên đây buôn bán, nên thuần hàng địa phương.

< Lũng Vân còn được du khách biết đến là xứ ngàn mây. Mây ở Lũng Vân như dải lụa trắng vắt ngang núi Cô Tiên và được người Mường ví như “chiếc khăn của Bụt”.

Vải vóc, thổ cẩm, đồ đan, rau cỏ, củ quả, hoa trái, chim thú rừng… Đi chợ có lẽ là đi chơi, trao đổi hàng hóa nhiều hơn. Vùng này cho đến ngày nay, người ta rất ít tiền, thậm chí nhiều người không có tiền”.

< Người Mường ở Lũng Vân còn lưu giữ được nhiều nét văn hóa đặc sắc, đặc biệt là trang phục.

Có lẽ vì cách trở với phần còn lại của xứ Mường Bi nên Lũng Vân được bảo tồn khá nguyên vẹn, từ những mái nhà sàn dốc hình con rùa với đức tin con rùa tượng trưng cho sự vững chãi đến những bộ váy của người phụ nữ Mường. Những chiếc váy truyền thống đa phần là màu đen, đầu váy trang trí bằng những hoa văn thổ cẩm nổi bật. Ngày nay, để phù hợp với lao động, váy có ngắn hơn song những đường nét tinh tế trong trang trí vẫn được lưu giữ.

< Người Mường ở Lũng Vân sống gần gũi thiên nhiên, hài hòa và mến khách.

Đến Lũng Vân đẹp nhất vào thời điểm sau Tết đến tháng Tư hàng năm bởi đó là lúc có nhiều mây bao phủ nhất. Mây bắt đầu xuất hiện từ chiều tối, đến sáng sớm hôm sau thì tan dần và đến giữa trưa thì trời quang hẳn. Đây cũng là thời điểm người Mường bắt đầu vào vụ cấy trên những thửa ruộng bậc thang được ví như “tấm gương trời khổng lồ xứ Mường Bi”. Người Mường ở Lũng Vân còn giữ được tập tục canh tác lúa trên ruộng bậc thang theo lối truyền thống.

< Mùa cấy ở Lũng Vân.

Cụ Hà Văn Bình ở Lũng Vân cho biết: “ Người Mường chúng tôi sống các biệt nên trong canh tác lúa nương cũng khác với người Mường ở vùng thấp. Những thửa ruộng bậc thang phải đợi đến “nước trời”là mưa xuống mới bắt đầu canh tác. Chúng tôi gieo cấy lúa hoàn toàn theo phương pháp thủ công nên năng suất không cao nhưng gạo Lũng Vân ngon và thơm nổi tiếng xứ Mường. Ngày xưa, gạo ở Lũng Vân được dùng làm đồ cung tiến các Chúa Mường nên vùng Mường Bi vẫn gọi gạo Lũng Vân với tên gọi khác là gạo Chúa Mường”.

< Cuộc sống của người Mường trong nếp nhà sàn.

Đến Lũng Vân, du khách có thể tham quan, nghỉ đêm tại nhà sàn của người Mường, cùng làm những công việc hàng ngày với người dân hay tham gia các sinh hoạt văn hóa cộng đồng… Ở Lũng Vân có một chợ duy nhất, nằm ngay trung tâm xã, họp mỗi tuần một lần vào ngày thứ 3, du khách có thể đến đây để tìm hiểu những nét đẹp văn hóa sắc văn hóa của dân tộc Mường.

Ở Lũng Vân hiện còn lưu giữ khá nhiều lễ hội văn hóa truyền thống của dân tộc Mường, phản ánh những sinh hoạt cộng đồng được đông đảo người dân và du khách quan tâm. Mỗi lễ hội là một bức tranh phản ánh hiện thực xã hội của người Mường cổ, tiêu biểu như Nạ Mụ, nhóm lửa, xuống đồng, Rửa Lá Lúa...trong đó hai lễ hội lớn nhất là Khai hạ và Cơm mới.

Theo Thông Thiện, Việt Cường (Báo Ảnh VN)
Du lịch, GO!

Lang thang Tắk Pỏ

(BQN) - Ngay cả với nhiều người Quảng Nam bây giờ, nghe đến địa danh Tắk Pỏ vẫn còn thấy ngơ ngác, chẳng biết ở phương trời nào. Nhưng khi có dịp đặt chân đến vùng rừng núi điệp trùng của huyện Nam Trà My hôm nay, mọi người sẽ thấy ngỡ ngàng với nhiều cảm xúc thú vị...

< Bản làng của người Xơđăng ngập trong nắng chiều.

Giữa ngày hè nóng rát, mấy “chị chàng” văn nghệ tỉnh lẻ ngẫu hứng bất chợt cùng kéo nhau lên Tắk Pỏ. Ban đầu ngỡ không xa lắm, nên ai cũng háo hức cố đi cho biết. Ai dè chiếc xe Ford phải gồng mình qua quãng đường ngoằn ngoèo hơn 110km mới chạm đến chân thị tứ của huyện Nam Trà My.

< Kho thóc của người Xơđăng dưới chân núi Ngọc Linh.

Vừa đặt chân đến trung tâm huyện, anh Lê Ngọc Kích - Phó Chủ tịch UBND huyện Nam Trà My đón chúng tôi như những người thân lâu ngày tìm về làng cũ! Không khí thân mật, nhiệt tình kích thích bầu máu nóng của đám “dân phố” từ già đến trẻ. Mặc dầu mới đổ bộ lên đây còn mệt nhoài, nhưng chân ai cũng thấy háo hức, vì thực sự cảnh trí, núi rừng ở đây vẫn còn đang rất... thiên nhiên.  Mọi người tự vẽ “đường bay” để cố thu vào tầm mắt lạ lẫm về cuộc sống và cảnh hùng vĩ của dải đất biên ải phía tây nam đất Quảng.
Nhưng đâu phải lúc nào cũng mơ được, ước thấy...

Mây đen đang sà xuống trên khắp dãy núi cao, báo hiệu một buổi chiều không thuận lợi. Dù vậy, mọi người quyết tâm vượt núi để đến xã Trà Nam trước cơn mưa rừng. Bởi nghe nói ở chót vót vùng đất biên viễn này đã được ông Bí thư Thành ủy Đà Nẵng lên thăm, quyết định việc Đà Nẵng hỗ trợ xây một ngôi trường cấp II bề thế với kinh phí hơn 10 tỷ đồng. Hình như ông trời cũng không nỡ phụ lòng người. Chúng tôi tìm đến ngôi trường mới xây giữa chiều còn hửng nắng. Quả thực, khi nhìn tận mắt ngôi trường khang trang, với hai dãy tầng lầu giữa đại ngàn vời vợi tôi cảm thấy thấm đẫm chất nghĩa tình.

< Thưởng ngoạn bởi những âm điệu của trống, cồng chiêng và cả điệu múa Xoang truyền thống của thiếu nữ Xơ đăng.

Tuy các thôn, nóc của đồng bào dân tộc còn rất thưa thớt và ở sâu dưới các khoảnh ruộng bậc thang, nhưng ngôi trường Phổ thông Cơ sở Trà Nam này đủ làm sáng lên sắc diện văn hóa của cuộc sống chốn thâm sơn. Từ cổng trường Trà Nam, người hướng dẫn của Phòng VH-TT huyện chỉ về hướng tây bắc giới thiệu: “Còn vài khoen rựa nữa sẽ đến chân dãy Ngọc Linh. Đó là nơi duy nhất trồng được loài sâm quý, được đánh giá là hơn hẳn sâm Cao Ly”. Nhưng lần này, ông trời đùng đùng nổi cơn sấm chớp. Anh em đành lặng lẽ rút lui trong sự tiếc nuối, vì ai cũng đã “lên dây cốt” tinh thần chuẩn bị vượt qua mấy con núi chạm trời, để được tận mắt nhìn thấy... cây sâm Ngọc Linh.

Trên đường xuống núi, trời bắt đầu chạng vạng. Những đám mây vần vũ đang khóa kín các cửa rừng bao quanh. Bỗng nhiên, từ các thung lũng, các triền núi ánh lên ánh điện lung linh, mờ ảo. Những kẻ “dân phố” như chúng tôi cũng thấy vô cùng lạ lẫm, reo lên: “Ở đây cũng có điện!”. Hóa ra, cảnh rừng già đâu còn là cõi heo hút như xưa, ánh sáng của văn minh đã được những bàn tay người thợ không quản nhọc nhằn mang đến thắp sáng tự bao giờ. Vừa về đến trung tâm huyện, tôi vội vã gặp anh Lê Ngọc Kích hỏi cho ra cơ sự. Anh nói ngay: “Cả huyện Nam Trà My có 10 xã, 43 thôn, 112 nóc. Đến nay đã có 10/10 trung tâm xã có đường ô tô và điện chiếu sáng; 2/3 số thôn và một số nóc gần đường lớn đã có điện từ nhiều năm nay”. Đến lượt tôi phải xuýt xoa về thông tin thú vị này.

< Đến Tắk Pỏ bạn sẽ được thưởng thức hương rừng Trà My bên ché rượu cần ngay ngất hương thơm.

Mọi người thử tưởng tượng, ngay mấy xã vùng đông như ở huyện Thăng Bình mà đến 2008 vẫn còn “ăn đèn, ngủ điện”. Trong khi đó, huyện Nam Trà My mới được sinh thành chưa tròn 10 tuổi, chưa kể điều kiện khắc nghiệt của vùng cao, núi thẳm... Thế mà nhiều thôn, nóc giữa rừng cách trung tâm huyện gần 50 cây số đã sáng đèn điện, đồng nghĩa với việc bà con các dân tộc nơi đây đã bắt đầu hòa nhập vào đời sống văn minh, hiện đại. Những gì vừa được “sở thị” giữa đại ngàn mênh mông này khiến chúng tôi phải ngả mũ thán phục. Để có được những chấm sáng tuy còn bé nhỏ, nhưng giữa điệp trùng mây núi hòa quyện này đủ chứng nghiệm cho tâm huyết, mồ hôi của đội ngũ cán bộ, chính quyền huyện mới Nam Trà My. Dulichgo

Hơn một ngày lưu lại Tắk Pỏ, chúng tôi cố giật lùi thời gian để hình dung, đối chiếu. Tôi nhớ trước năm 2003 - năm chuẩn bị chia tách huyện - đã có lần tôi “lạc lối” đến đây. Nghe tiếng là “thị tứ Tắk Pỏ” nhưng chỉ có dăm ngôi nhà gỗ, nằm cạnh bãi đậu xe loang lổ với nhiều ổ voi, ổ trâu. Đường sá thì qua khỏi thị trấn Trà My - Bắc Trà My bây giờ - chủ yếu là “dấu xe hai bánh với lởm chởm đá núi” như một người dân tộc Co miêu tả. Thế mà giờ đây, trục đường nhựa chính từ dưới xuôi lên trườn qua khỏi thị tứ mới hình thành, lên tận xã vùng biên Trà Nam.

< Thiếu nữ Xơđăng bên bến nước làng.

Phía dưới trung tâm huyện còn có hai ngả rẽ: một đi Đắk Tô - Tân Cảnh và một nối với tuyến đường Đông Trường Sơn. Một cảnh tạo tác như mơ. Đường sá thông thoáng; điện về giăng mắc khắp nơi đã làm thay đổi diện mạo cuộc sống của người dân Tắk Pỏ trước đây. Nhiều dãy nhà, quán xá mọc lên với tinh tươm biển hiệu. Thậm chí, cái tên thị tứ đặc trưng gắn bó mấy đời của đồng bào dân tộc cũng không còn nghe ai nhắc đến. Bây giờ người ta chỉ biết nơi đây là thị tứ xã Trà Mai, hoặc trung tâm hành chính huyện. Sắc thái mới của nhịp sống đang lan tỏa trên những triền đồi, trong các ngành thông tin, dịch vụ - dự báo cho tương lai sẽ là một thị trấn  sầm uất của vùng cao.

Công cuộc bạt núi, phá đồi đang mở ra nhiều triển vọng “đổi đời” cho cuộc sống người dân vùng cao. Thanh niên dân tộc thiểu số trong các thôn, nóc không còn thấy gùi cõng lên thị tứ như xưa mà giờ đây mọi thứ được vận chuyển bằng xe máy nhiều loại. Trong quán cà phê góc núi, tôi còn nghe líu ríu những giọng Kinh chưa chuẩn đang tán chuyện “cập nhật thông tin” trên báo mạng... Những việc mà nhiều người đã gắn bó với đất này còn thấy bất ngờ, kể chi là khách qua đường như chúng tôi. Bởi thế, những “chị chàng” chưa hết bần thần say xe, chừng như giờ đây muốn gật gù say cảnh...

Với sự phát triển “chậm mà chắc”, có lẽ trong tương lai gần địa bàn Nam Trà My sẽ là một điểm sáng trên bản đồ du lịch Quảng Nam. Bởi nơi đây không chỉ có thiên nhiên hùng vĩ, cảnh sắc thơ mộng mà còn có cả lực hút của một vùng văn hóa bản địa chưa bị pha tạp.

Theo Ngô Phú Thiện (Báo Quảng Nam), ảnh từ Nam Tra My
Du lịch, GO!

Làng nghề bánh cuốn Cắt Lại

Những thang bánh cuốn trắng muốt Cắt Lại (Hà Nam) vừa dẻo dai vừa giòn xốp, hành phi vàng ruộm, nước chấm cay cay, làm cho người thưởng thức nhớ mãi món ăn dân dã này. Men theo con đường nhỏ gồ ghề sỏi đá, làng Cắt Lại (xã Bình Nghĩa, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam) nằm thu mình bên dòng sông Đáy êm đềm, nơi đã đưa món bánh cuốn Cắt Lại trở nên nổi tiếng khắp cả nước.

Cụ Xuân, 88 tuổi, một trong những người làm bánh đầu tiên ở Cắt Lại, cho biết, phải trải qua “7 bước 4 vị”, chứng kiến tận mắt cách làm bánh mới thấy được sự kỳ công của người thợ Cắt Lại khi cho ra lò một thang bánh cuốn ngon.

Theo cụ Xuân, nguyên liệu chính để làm bánh cuốn là gạo tẻ như C70, Khang Dân… “Phải chọn lựa gạo thật kĩ sao cho những thang bánh sau khi ra lò không bị bở, vụn mà phải dẻo dai mà vẫn giữ được độ xốp của bánh chính là bí quyết tạo nên thương hiệu bánh cuốn Cắt Lại từ bao đời nay”.

Nhà cụ Xuân giờ vẫn dùng chiếc cối đá để xay gạo, nhưng lúc nào nhớ nghề xưa, cụ cùng các con mới làm bánh theo cách gia truyền. Cụ Xuân bảo: “Làm bằng máy thì nhanh nhưng khi ăn sẽ không đậm đà như làm theo cách người xưa dạy được”.  Muốn có một thang bánh cuốn ngon phải trải qua 7 công đoạn chính, từ chọn gạo tới ngâm, rồi xay đều thành bột… lại ngâm, ngâm xong lại vắt nước lấy bột, ép bột -  rồi mới đem tráng bánh.

Khâu ngâm gạo được người dân làng Cắt Lại chú ý và quan tâm nhất. Trong đó, ngâm lần thứ nhất (24 giờ) chỉ để gạo nở hết cỡ rồi mang đi xay đều thành bột. Ngâm lần thứ hai là quan trọng nhất, ngâm bột cho lên men, tính toán thời gian sao cho không để bột vừa chua nếu quá, bột bị đóng bánh là hỏng cả mẻ.

Bột ngâm lên men xong, phần việc tiếp theo phụ thuộc vào sức lực của người đàn ông, phải chắt nước lấy bột - rồi cho bột vào thau đánh nhuyễn đến khi nào bột tráng thành bánh được mới xong.
Lửa tráng bánh phải đều, nhiệt độ trong nồi hấp được các thợ tráng bánh rất lưu tâm bởi chỉ cần lơ là một chút là bánh chín nhanh bở, không đủ độ dẻo dai... mẻ bánh đó coi như lỗ nặng.

Làm bánh đã khó, nhân bánh rồi nước mắm chấm còn khó hơn. Chính những gia vị tưởng chừng như đơn giản nhưng lại rất khó chiều lòng thực khách.  Khâu chủ yên là làm nước chấm phải pha từ loại mắm ngon, thêm chút nước sôi để nguội, với tỏi, ớt…và nắm rau thơm nữa là thành bộ tứ.

Cho đến nay, những hộ làm bánh cuốn theo phương pháp truyền thống trong làng Cắt Lại chỉ còn đếm trên đầu ngón tay. Tuy nhiên, bánh cuốn Cắt Lại không vì thế mà giảm độ hấp dẫn. Để kịp giao bánh cho các lái buôn, các cửa hàng bánh cuốn trong tỉnh phải ngâm bột từ ngày hôm trước, bánh cuốn cứ thế gối nhau ra lò.

Làng Cắt Lại với hơn 200 hộ thì có tới 80% là theo nghề các cụ để lại nhưng vẫn sản suất theo kiểu tự cung tự cấp, làm ăn manh mún tiêu thụ theo thị trường. Tháng 9.2009, làng vinh dự được công nhận là làng nghề truyền thống, đây là một niềm động viên khích lệ các hộ gia đình trong làng tiếp tục lưu giữ và phát triển nghề cha ông để lại. Giờ thương hiệu bánh cuốn Cắt Lại đã vang xa trong ngoài tỉnh. Tuy nhiên, theo cụ Xuân để xây dựng được một thương hiệu vững mạnh thì làng nghề cần được những định hướng cụ thể hơn để phát triển tốt hơn.

Theo Tin Mới
Du lịch, GO!