Nằm trên bán đảo Mai Phương thuộc xã Nhơn Lý, thành phố Quy Nhơn, Bình Định: Eo Gió là địa danh rất nổi tiếng dù không mấy người phương xa biết đến nếu không nghiêng cứu trước, không có người bản địa dẫn đường khi đến đây.
Eo Gió nổi tiếng với bãi biển đá đẻ kỳ thú, những vách đá dựng đứng đâm thẳng ra đại dương với bãi biển rộng, cát vàng óng, sóng êm.
Eo Gió được nhắc đến bởi những vẻ đẹp nguyên sơ và hùng vĩ. Đây là một vùng biển xanh được những rặng núi đá cao với nhiều hình thù lạ mắt cong vòng ôm trọn như trong vòng tay tạo thành một eo biển hút gió tuyệt đẹp. Đứng từ trên cao nhìn xuống, khách có cảm giác choáng ngợp trước thiên nhiên hùng vĩ của núi non, của những cơn gió mạnh mẽ thổi từ biển khơi và biển xanh bất tận ngoài xa ầm ào tung bọt trắng xóa lên dải đất quyến rũ. Cái tên Eo Gió cũng được ra đời giản dị như vậy.
Ở Eo Gió, bạn có thể làm một chuyến dã ngoại thú vị trong ngày. Quanh eo biển là cánh đồng cỏ xanh bát ngát với những chú dê ngoan ngoãn nhẩn nha gặm cỏ.
Dưới chân là bãi đá mà người dân địa phương gọi là bãi ‘Đá đẻ’. Sở dĩ có cái tên này vì đá ở nơi này dù đã được người dân nhặt về làm nhà rất nhiều nhưng có cảm giác không hề vơi đi. Dulichgo
Những viên đá giống những quả trứng với đủ các kích cỡ lớn nhỏ đủ, đủ màu sắc... như những tuyệt tác được thiên nhiên sắp đặt.
Ngả lưng nghỉ ngơi trên một phiến đá mát lạnh, vứt hết những lo âu, để âm thanh của gió hòa với tiếng sóng vỗ dịu êm, để hương biển mặn mòi của biển cả và trời xanh quyến rũ. Trong lòng eo biển thoáng rộng, vừa có thể thư thái, vừa có thể nghỉ ngơi và tham quan.
Riêng bãi biển Eo Gió gần đó thuộc thôn Bấc (Thôn Lý Lương, Nhơn Lý) là một vùng biển xanh được những rặng núi đá cao với nhiều hình thù lại mắt uốn cong ôm vòng vòng quanh tạo thành một eo biển hút gió tuyệt đẹp. Thú vị hơn, ở đây còn có giếng tiên, là một con suối nhỏ như dải lụa vắt bên vách núi, nước suối mát ngọt và trong vắt. Còn gì tuyệt hơn hơn sau khi chơi với đá, tắm biển rồi ngâm mình trong giếng tiên thả hồn theo mây gió, hệt như chốn tiên cảnh.
Đến Eo Gió, bạn cũng đừng quên ghé thăm làng chài cách đó không xa. Cạnh làng chài là một ngôi chùa bề thế, tượng Phật bà quan âm nhìn ra biển là mong ước bình yên và may mắn đến với ngư dân của làng chài. Thời điểm đẹp nhất để đến nơi này là từ tháng 4 đến tháng 9, khi trời không có bão và lòng vịnh kín gió.
Phía đông bán đảo Phương Mai, thành phố biển Quy Nhơn án ngữ bởi dãy núi đá chạy dài ven biển chừng 15 km với một số đỉnh cao như núi Đen, Hòn Mai, Hòn Yến, hòn Chóp Vung, cao từ 200-300m. Nơi xa nhất của vòng cung đó là Eo Gió. Dulichgo
Nét độc đáo nhất ở Eo Gió là đá và nước. Sự bào mòn của nước và gió đã tạo nên 19 hang chim yến ở đây với những cái tên rất ngộ nghĩnh: hang Kỳ Co, hang Ba Nghé, hang sức Khỏe, hang Dơi… biến bán đảo Phương Mai thành vùng có chim yến đảo nhiều thứ 2 ở nước ta sau Nha Trang.
Để đến được Eo Gió, bạn qua cầu Thị Nại, đến ngã ba Nhơn Hội, rẽ theo hướng tay phải đi trên tuyến đường trục đã trải nhựa thẳng tắp khoảng 5 km đến trung tâm xã Nhơn Lý. Con đường hun hút với những hàng phi lao và những bãi cát trắng. Gửi xe ở nhà dân gần đấy và đi bộ khoảng 100m là đến.
Du lịch, GO! tổng hợp
Eo Gió Quy Nhơn
Eo Gió - bài hát của đá và gió
Friday, January 2, 2015
Ước vọng theo những cung đường
(QNO) - Biên giới không còn xa, khi những con đường bắt đầu vươn mình về phía núi, nối nhịp ân tình giữa miền ngược - miền xuôi…
< Lần đầu tiên, người dân Côn Zốt (xã Chơ Chun) đã có thể đi xe máy vào tận làng.
Đi về phía núi
Chủ tịch xã Chơ Chun Pơloong Ađốc chỉ về phía “cổng trời” Côn Zốt, nơi máy xúc, máy ủi vẫn đang ầm ào tiến sâu vào trong rừng, nói: “Không ai vui mừng bằng chính những người dân nơi đây, khi giấc mơ thông thương đang dần thành hiện thực”. Đã bao đời người dân Côn Zốt, A Sò, Blăng ở Nam Giang vẫn khao khát một con đường để cái lưng đỡ mỏi, cái vai bớt trĩu nặng mỗi khi gùi hàng hóa bán mua với bên ngoài. Đó là chưa kể mỗi khi ốm đau, bệnh tật, nhiều người dân chỉ biết ngồi “bó gối” bên hiên nhà vì không thể vượt hàng chục cây số đường rừng đưa người đến bệnh viện.
“Đường được mở, người dân Chơ Chun mới dám nghĩ đến giấc mơ trường, trạm, có điện thắp sáng, có xe vận chuyển hàng hóa về làng. Giấc mơ đó không còn xa nữa, khi bà con tận mắt thấy xe ủi, xe xúc mở đường, ô tô đã có thể vào tận bản làng cuối cùng ở vùng biên giới” - ông Ađốc phấn khởi cho biết.
Chơ Chun là xã vùng biên xa xôi nhất của huyện Nam Giang. Những năm trước, muốn vào trung tâm xã chỉ có cách duy nhất là cuốc bộ hàng giờ đồng hồ theo đường cũ. Mùa mưa lũ, hàng trăm hộ dân xã Chơ Chun gần như bị cô lập. Công văn, thư tín bao giờ cũng “trễ hẹn” mới đến tay. Nơi đây từng được mệnh danh là xã “5 không” của huyện Nam Giang: không điện, không đường, không trường, không trạm và không có sóng điện thoại. Chủ tịch UBND huyện Nam Giang Alăng Mai từng trăn trở: “Xã Chơ Chun được chia tách với gần 1.000 nhân khẩu từ năm 2011, nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
Tuy nhiên, những cách trở về địa lý đòi hỏi một nguồn lực đầu tư quá lớn, địa phương không thể đáp ứng trong một thời gian ngắn. Đây chính là trở lực khiến Chơ Chun chưa thể thoát nghèo, phát triển kịp với các xã khác ở vùng cao”. Đặt mục tiêu xây dựng hạ tầng giao thông, kết nối xã Chơ Chun với các xã vùng biên lân cận, huyện Nam Giang đã tranh thủ mọi nguồn lực đầu tư, xem đây là tiêu chí ưu tiên hàng đầu. Cuối năm 2013, UBND tỉnh phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình đường biên giới nối từ xã Chơ Chun, huyện Nam Giang đến xã Ga Ri và xã A Xan, huyện Tây Giang (giai đoạn 1) do Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng làm chủ đầu tư. Dulichgo
Công trình có tổng chiều dài tuyến 10km, với tổng mức đầu tư hơn 75,3 tỷ đồng từ nguồn vốn Trung ương hỗ trợ có mục tiêu, chương trình quản lý bảo vệ biên giới và ngân sách tỉnh. Bên cạnh đó, con đường dẫn từ Chà Vàl (trung tâm của 6 xã vùng cao huyện Nam Giang) về với Chơ Chun bắt đầu được triển khai mở rộng, như một “dấu mốc” khởi đầu cho ước vọng vươn mình của vùng biên. Những chiếc gùi nay chỉ còn dùng lên rẫy, việc vận chuyển bán buôn nông sản làm ra đã có thể bắt đầu gửi theo những chuyến xe chở hàng. Chuyện đổi hàng lấy hàng đã lùi dần vào quá khứ, những tiệm tạp hóa nhỏ mọc lên ở các bản làng như một tín hiệu vui cho những đổi thay nơi “cổng trời”. Già làng Coor Nghêu hồ hởi: “Cả đời già sống trong cực khổ, nay được thấy cái xe vào làng, thấy con cháu đi học bớt khó khăn, mừng lắm!”.
Qua thời gian khó
< Cây cầu bắc ngang sông R’lang giúp Phú Mưa không còn là ốc đảo.
Trong ký ức những ngày xa, A Duông 2, Ka Đắp, Phú Mưa là cái tên gợi lên muôn vàn cách trở ở vùng cao Đông Giang. Đã một thời được mệnh danh là những ngôi làng “ốc đảo”, người dân nơi đây đi qua nhiều cái tết chưa trọn vẹn. Dùng bè nứa, qua cầu khỉ chông chênh là cách duy nhất để ra khỏi làng. Nhưng đó đã là câu chuyện của ngày hôm qua. Bây giờ, trở lại A Duông 2, Ka Đắp, Phú Mưa, con đường đã về đến làng, mang theo điện thắp sáng cùng những đổi thay. Một “cuộc cách mạng về văn minh” đã đổ bộ, khi tivi, xe máy và nhiều vật dụng khác được sắm sửa, phục vụ. Già làng Ating Lăng (thôn A Duông 2, thị trấn P’rao) kể: “Lâu nay làng A Duông 2 không bằng các làng khác, cái gì cũng thiếu, cũng hụt. Giờ thì khác rồi, không còn khổ cực mãi như hồi trước nữa”.
Lời kể giản dị của già Lăng chất chứa nỗi chạnh lòng của mấy mươi năm trẻ con soi đèn pin đi học, đàn bà sinh con ngay trên võng khi trở dạ mà không kịp đến trạm y tế. Mấy mươi năm là khi lập bản lập làng giữa núi rừng, khi các cựu binh trở về hô vang Bắc - Nam thống nhất. Giữa trập trùng gian khó của vùng cao, những đổi thay từng ngày lặng lẽ khoác cho A Duông 2, Ka Đắp, Phú Mưa và nhiều bản làng khác một màu áo mới.
< Lũ trẻ làng A Duông 2 háo hức xem tivi khi điện đã về.
Như những mạch máu nuôi sống đất và người, những con đường len lỏi vươn đến nơi xa nhất, nơi khó khăn nhất, để bản làng ấm no hơn, để ánh điện thắp cho trẻ con học chữ, để người lớn xem tin tức, để các amế (mẹ), ađhi (em) mang nông sản theo xe ra chợ huyện bán mua, lấy muối, lấy thịt cá mang về. Chủ tịch xã Arooih (Đông Giang) Hốih Bảy bộc bạch: “Trước những bức xúc khi phải đi lại bằng bè nứa hoặc phải lội sông, người dân thôn Ka Đắp đã cùng với chính quyền tự mở con đường tránh vòng lên đến A Dinh. Bây giờ, hơn nửa con đường đã được bê tông hóa. Đó là con đường của lòng dân, của sự đồng thuận, mở lối thoát những khó nghèo vây lấy bao năm”.
Trong gươl làng Phú Mưa, sợi cáp dài giăng ngang sông R’lang treo giữa nóc được lưu giữ như một kỷ vật của làng. Sợi cáp đi cùng bao năm tháng, đưa người làng Phú Mưa vượt sông nay đã nhuốm màu khói bếp. Thi thoảng già làng vẫn kể chuyện cho cháu con nghe về ngày xưa. Đó là mảnh ký ức gắn với mùa mưa lũ, với chuyện vượt sông đưa con trẻ đến trường. Đi trên cây cầu mới, người làng vẫn nhìn về phía gốc sung già, nơi neo một đầu sợi cáp vượt sông thuở trước. Dulichgo
Già Alăng Chúc, người huy động dân làng làm không biết bao nhiêu chiếc bè nứa để vượt sông đã yêu cầu cất sợi dây cáp trong gươl từ khi cây cầu được dựng để con cháu không quên thời gian khó mà dân làng đã trải qua. “Giữ lại sợi cáp đó, để biết trân trọng những gì đã qua, mừng cho bản làng hôm nay đổi mới. Lúa mới đầy kho, muối đầy ché cũng có phần công của cây cầu bắc về làng”- già Chúc nói.
Dự đêm hội làng mừng mùa lúa mới, ngân nga bên ché rượu cần là những câu hát lý hân hoan. Các ama (cha) bớt kể về gian khó, bớt buồn về thiếu muối, thiếu ăn. Câu hát lý chia nhau niềm vui mừng con đường mới mở, mừng ánh điện về với buôn làng. Rượu cần mềm môi, tiếng trống chiêng như đồng vọng niềm vui của bản theo những con đường mơ ước.
Theo Phương Giang, Alăng Ngước (báo Quảng Nam)
Du lịch, GO!
< Lần đầu tiên, người dân Côn Zốt (xã Chơ Chun) đã có thể đi xe máy vào tận làng.
Đi về phía núi
Chủ tịch xã Chơ Chun Pơloong Ađốc chỉ về phía “cổng trời” Côn Zốt, nơi máy xúc, máy ủi vẫn đang ầm ào tiến sâu vào trong rừng, nói: “Không ai vui mừng bằng chính những người dân nơi đây, khi giấc mơ thông thương đang dần thành hiện thực”. Đã bao đời người dân Côn Zốt, A Sò, Blăng ở Nam Giang vẫn khao khát một con đường để cái lưng đỡ mỏi, cái vai bớt trĩu nặng mỗi khi gùi hàng hóa bán mua với bên ngoài. Đó là chưa kể mỗi khi ốm đau, bệnh tật, nhiều người dân chỉ biết ngồi “bó gối” bên hiên nhà vì không thể vượt hàng chục cây số đường rừng đưa người đến bệnh viện.
“Đường được mở, người dân Chơ Chun mới dám nghĩ đến giấc mơ trường, trạm, có điện thắp sáng, có xe vận chuyển hàng hóa về làng. Giấc mơ đó không còn xa nữa, khi bà con tận mắt thấy xe ủi, xe xúc mở đường, ô tô đã có thể vào tận bản làng cuối cùng ở vùng biên giới” - ông Ađốc phấn khởi cho biết.
Chơ Chun là xã vùng biên xa xôi nhất của huyện Nam Giang. Những năm trước, muốn vào trung tâm xã chỉ có cách duy nhất là cuốc bộ hàng giờ đồng hồ theo đường cũ. Mùa mưa lũ, hàng trăm hộ dân xã Chơ Chun gần như bị cô lập. Công văn, thư tín bao giờ cũng “trễ hẹn” mới đến tay. Nơi đây từng được mệnh danh là xã “5 không” của huyện Nam Giang: không điện, không đường, không trường, không trạm và không có sóng điện thoại. Chủ tịch UBND huyện Nam Giang Alăng Mai từng trăn trở: “Xã Chơ Chun được chia tách với gần 1.000 nhân khẩu từ năm 2011, nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
Tuy nhiên, những cách trở về địa lý đòi hỏi một nguồn lực đầu tư quá lớn, địa phương không thể đáp ứng trong một thời gian ngắn. Đây chính là trở lực khiến Chơ Chun chưa thể thoát nghèo, phát triển kịp với các xã khác ở vùng cao”. Đặt mục tiêu xây dựng hạ tầng giao thông, kết nối xã Chơ Chun với các xã vùng biên lân cận, huyện Nam Giang đã tranh thủ mọi nguồn lực đầu tư, xem đây là tiêu chí ưu tiên hàng đầu. Cuối năm 2013, UBND tỉnh phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình đường biên giới nối từ xã Chơ Chun, huyện Nam Giang đến xã Ga Ri và xã A Xan, huyện Tây Giang (giai đoạn 1) do Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng làm chủ đầu tư. Dulichgo
Công trình có tổng chiều dài tuyến 10km, với tổng mức đầu tư hơn 75,3 tỷ đồng từ nguồn vốn Trung ương hỗ trợ có mục tiêu, chương trình quản lý bảo vệ biên giới và ngân sách tỉnh. Bên cạnh đó, con đường dẫn từ Chà Vàl (trung tâm của 6 xã vùng cao huyện Nam Giang) về với Chơ Chun bắt đầu được triển khai mở rộng, như một “dấu mốc” khởi đầu cho ước vọng vươn mình của vùng biên. Những chiếc gùi nay chỉ còn dùng lên rẫy, việc vận chuyển bán buôn nông sản làm ra đã có thể bắt đầu gửi theo những chuyến xe chở hàng. Chuyện đổi hàng lấy hàng đã lùi dần vào quá khứ, những tiệm tạp hóa nhỏ mọc lên ở các bản làng như một tín hiệu vui cho những đổi thay nơi “cổng trời”. Già làng Coor Nghêu hồ hởi: “Cả đời già sống trong cực khổ, nay được thấy cái xe vào làng, thấy con cháu đi học bớt khó khăn, mừng lắm!”.
Qua thời gian khó
< Cây cầu bắc ngang sông R’lang giúp Phú Mưa không còn là ốc đảo.
Trong ký ức những ngày xa, A Duông 2, Ka Đắp, Phú Mưa là cái tên gợi lên muôn vàn cách trở ở vùng cao Đông Giang. Đã một thời được mệnh danh là những ngôi làng “ốc đảo”, người dân nơi đây đi qua nhiều cái tết chưa trọn vẹn. Dùng bè nứa, qua cầu khỉ chông chênh là cách duy nhất để ra khỏi làng. Nhưng đó đã là câu chuyện của ngày hôm qua. Bây giờ, trở lại A Duông 2, Ka Đắp, Phú Mưa, con đường đã về đến làng, mang theo điện thắp sáng cùng những đổi thay. Một “cuộc cách mạng về văn minh” đã đổ bộ, khi tivi, xe máy và nhiều vật dụng khác được sắm sửa, phục vụ. Già làng Ating Lăng (thôn A Duông 2, thị trấn P’rao) kể: “Lâu nay làng A Duông 2 không bằng các làng khác, cái gì cũng thiếu, cũng hụt. Giờ thì khác rồi, không còn khổ cực mãi như hồi trước nữa”.
Lời kể giản dị của già Lăng chất chứa nỗi chạnh lòng của mấy mươi năm trẻ con soi đèn pin đi học, đàn bà sinh con ngay trên võng khi trở dạ mà không kịp đến trạm y tế. Mấy mươi năm là khi lập bản lập làng giữa núi rừng, khi các cựu binh trở về hô vang Bắc - Nam thống nhất. Giữa trập trùng gian khó của vùng cao, những đổi thay từng ngày lặng lẽ khoác cho A Duông 2, Ka Đắp, Phú Mưa và nhiều bản làng khác một màu áo mới.
< Lũ trẻ làng A Duông 2 háo hức xem tivi khi điện đã về.
Như những mạch máu nuôi sống đất và người, những con đường len lỏi vươn đến nơi xa nhất, nơi khó khăn nhất, để bản làng ấm no hơn, để ánh điện thắp cho trẻ con học chữ, để người lớn xem tin tức, để các amế (mẹ), ađhi (em) mang nông sản theo xe ra chợ huyện bán mua, lấy muối, lấy thịt cá mang về. Chủ tịch xã Arooih (Đông Giang) Hốih Bảy bộc bạch: “Trước những bức xúc khi phải đi lại bằng bè nứa hoặc phải lội sông, người dân thôn Ka Đắp đã cùng với chính quyền tự mở con đường tránh vòng lên đến A Dinh. Bây giờ, hơn nửa con đường đã được bê tông hóa. Đó là con đường của lòng dân, của sự đồng thuận, mở lối thoát những khó nghèo vây lấy bao năm”.
Trong gươl làng Phú Mưa, sợi cáp dài giăng ngang sông R’lang treo giữa nóc được lưu giữ như một kỷ vật của làng. Sợi cáp đi cùng bao năm tháng, đưa người làng Phú Mưa vượt sông nay đã nhuốm màu khói bếp. Thi thoảng già làng vẫn kể chuyện cho cháu con nghe về ngày xưa. Đó là mảnh ký ức gắn với mùa mưa lũ, với chuyện vượt sông đưa con trẻ đến trường. Đi trên cây cầu mới, người làng vẫn nhìn về phía gốc sung già, nơi neo một đầu sợi cáp vượt sông thuở trước. Dulichgo
Già Alăng Chúc, người huy động dân làng làm không biết bao nhiêu chiếc bè nứa để vượt sông đã yêu cầu cất sợi dây cáp trong gươl từ khi cây cầu được dựng để con cháu không quên thời gian khó mà dân làng đã trải qua. “Giữ lại sợi cáp đó, để biết trân trọng những gì đã qua, mừng cho bản làng hôm nay đổi mới. Lúa mới đầy kho, muối đầy ché cũng có phần công của cây cầu bắc về làng”- già Chúc nói.
Dự đêm hội làng mừng mùa lúa mới, ngân nga bên ché rượu cần là những câu hát lý hân hoan. Các ama (cha) bớt kể về gian khó, bớt buồn về thiếu muối, thiếu ăn. Câu hát lý chia nhau niềm vui mừng con đường mới mở, mừng ánh điện về với buôn làng. Rượu cần mềm môi, tiếng trống chiêng như đồng vọng niềm vui của bản theo những con đường mơ ước.
Theo Phương Giang, Alăng Ngước (báo Quảng Nam)
Du lịch, GO!
Khách nhà dài
(BAVN) - Đến Tp. Buôn Mê Thuột du khách được thưởng thức một loại hình du lịch mới lạ của dân tộc Ê Đê ở buôn Kô Sia (phường Tân Lập) là thăm nhà dài và thưởng thức những nét văn hóa đặc sắc được người dân nơi đây bảo tồn qua hàng nghìn năm.
Trước đây buôn Kô Sia là một buôn nhỏ của người Ê Đê với những nếp nhà dài êm đềm và là một trong bốn buôn cổ hình thành nên Tp. Buôn Mê Thuột ngày nay. Khi thành phố được mở rộng, buôn Kô Sia nay thuộc phường Tân Lập đã bị đô thị hóa và mất dần những nét văn hóa của người Ê Đê. Trước thực trạng đó, cách đây hơn 10 năm, già làng Ma Len tập hợp những người cao tuổi trong buôn lập nên đội cồng chiêng buôn Kô Sia nhằm truyền lại cho thế hệ trẻ ở buôn cách thức đánh cồng chiêng - nét văn hóa đặc sắc của người Ê Đê ở Tây Nguyên.
< Cây nêu trừ tà và mang những điều may mắn cho du khách đến thăm nhà dài Ê Đê.
Nhớ lại thời kỳ đó, già làng Ma Len cho biết: “Người Ê Đê ở Buôn Kô Sia chúng tôi thèm nghe tiếng cồng chiêng như con suối thèm nước vào mùa Tây Nguyên khô khát. Dulichgo
Từ khi chúng tôi mở lớp truyền dạy cồng chiêng cho giới trẻ, tiếng chiêng được vang lên mỗi tối ở nhà dài át đi tiếng loa đài ngoài phố lũ, làng như được giải cơn khát âm thanh của đại ngàn”.
< Thưởng thức tiếng khèn đinh tắt tà, câu hát truyền thống của bà con dân tộc Ê Đê.
Ban đầu lớp cồng chiêng được dạy tại nhà dài của già làng Ma Len thu hút sự tò mò của người dân thành phố và khách du lịch. Có rất nhiều du khách nước ngoài hằng tối đến tận buôn Kô Sia để nghe và xem các nghệ nhân dạy hát và đánh cồng chiêng cho lớp trẻ.
< Đội cồng chiêng buôn Kô Sia biểu diễn những âm điệu của núi rừng Tây Nguyên trong nhà dài.
Từ khi Đội cồng chiêng buôn Kô Sia hoạt động có hiệu quả, những thế hệ trẻ đã biết đánh cồng, chiêng và tích cực tham gia các hội diễn văn hóa do tỉnh Đắc Lắc và khu vực Tây Nguyên tổ chức thì địa danh buôn Kô Sia đã nổi tiếng trong vùng.
< Nhà dài ở buôn Kô Sia là nơi sinh hoạt văn hóa của một trong các đội cồng chiêng nổi tiếng nhất Tây Nguyên.
Cách đây ba năm, Sở văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Đắc Lắc có đến đặt vấn đề với già làng Ma Len và Đội cồng chiêng buôn Kô Sia tổ chức giới thiệu văn hóa của người Ê Đê dành cho khách du lịch. Theo đó, các công ty du lịch, lữ hành cũng liên hệ để phát triển tour tại buôn Kô Sia để làm đa dạng các loại hình du lịch ở Tây Nguyên.
Từ khi buôn Kô Sia phát triển du lịch, đời sống đồng bào Ê Đê nơi đây được cải thiện rõ rệt. Ông Aê Yon ở Kô Sia cho biết rằng: “ Buôn chúng tôi giờ chuyên môn hóa trong việc phát triển du lịch. Này nhé, đàn bà con gái thì chuẩn bị các món ẩm thực truyền thống của người Ê Đê để du khách thưởng thức, đám thanh niên thì thành lập đội hát dân ca, sử thi còn lớp người gia chúng tôi thì đánh cồng, chiêng trong nhà dài”. Dulichgo
< Du khách đến thăm nhà dài ở buôn Kô Sia thưởng thức các điệu dân ca dân vũ truyền thống của người Ê Đê.
Hiện nay, hằng tuần buôn Kô Sia đón hằng chục đoàn khách đến để thưởng thức âm thanh cồng chiêng và những nét văn hóa đặc sắc của người Ê Đê. Mỗi đêm tại nhà dài ở buôn Kô Sia du khách được các nghệ nhân và lũ làng phục dựng lại các lễ hội truyền thống như: Lễ lúa mới, lễ đầu năm, lễ hội cầu mùa, lễ đẻ đất, đẻ nước...
< Cùng nhau thưởng thức những ché rượu cần...
Tại nhà dài của già làng Ma Len chúng tôi gặp đoàn khách là những sinh viên khoa Phương đông học của trường Khoa học Xã hội và Nhân văn đang hứng thú nghe những điệu dân ca mượt mà của người Ê Đê. Sinh viên Nguyễn Tuấn Hùng chia sẻ rằng: “ Em đang tìm hiểu về văn hóa của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên để làm đề tài tốt nghiệp. Tại đây, nghe và xem các nghệ nhân đánh cồng chiêng, nghe hát dân ca em như thấy được văn hóa cả Tây Nguyên gói gọn trong nhà dài”.
Nói về sự hiệu quả của buôn Kô Sia trong công tác phát triển du lịch, Ông Nguyễn Minh Đức, Phó chủ tịch UBND phường Tân Lập cho biết: “ Sản phẩm khách nhà dài ở buôn Kô Sia đã trở thành một loại hình du lịch đặc sắc của địa phương chúng tôi. Thông qua sản phẩm du lịch khách nhà dài, người Ê Đê có cơ hội quảng bá văn hóa với bè bạn quốc tế và quan trọng hơn, chúng tôi đã thành công trong việc bảo tồn văn hóa gắn với việc phát triển kinh tế”.
Nhà dài là nhà ở truyền thống của dân tộc Ê Đê. Nhà dài là nơi ở chung cả một dòng họ và thường xuyên được nối dài thêm mỗi khi một thành viên nữ trong gia đình xây dựng gia thất. Nhà dài được xây dựng bằng vật liệu gỗ, tre, nứa lợp mái tranh và là nơi diễn ra các nghi lễ đánh công chiềng của buôn khi tiếp khách ở nơi xa đến.
Theo Thông Thiện, Tất Sơn (Báo Ảnh VN)
Du lịch, GO!
Trước đây buôn Kô Sia là một buôn nhỏ của người Ê Đê với những nếp nhà dài êm đềm và là một trong bốn buôn cổ hình thành nên Tp. Buôn Mê Thuột ngày nay. Khi thành phố được mở rộng, buôn Kô Sia nay thuộc phường Tân Lập đã bị đô thị hóa và mất dần những nét văn hóa của người Ê Đê. Trước thực trạng đó, cách đây hơn 10 năm, già làng Ma Len tập hợp những người cao tuổi trong buôn lập nên đội cồng chiêng buôn Kô Sia nhằm truyền lại cho thế hệ trẻ ở buôn cách thức đánh cồng chiêng - nét văn hóa đặc sắc của người Ê Đê ở Tây Nguyên.
< Cây nêu trừ tà và mang những điều may mắn cho du khách đến thăm nhà dài Ê Đê.
Nhớ lại thời kỳ đó, già làng Ma Len cho biết: “Người Ê Đê ở Buôn Kô Sia chúng tôi thèm nghe tiếng cồng chiêng như con suối thèm nước vào mùa Tây Nguyên khô khát. Dulichgo
Từ khi chúng tôi mở lớp truyền dạy cồng chiêng cho giới trẻ, tiếng chiêng được vang lên mỗi tối ở nhà dài át đi tiếng loa đài ngoài phố lũ, làng như được giải cơn khát âm thanh của đại ngàn”.
< Thưởng thức tiếng khèn đinh tắt tà, câu hát truyền thống của bà con dân tộc Ê Đê.
Ban đầu lớp cồng chiêng được dạy tại nhà dài của già làng Ma Len thu hút sự tò mò của người dân thành phố và khách du lịch. Có rất nhiều du khách nước ngoài hằng tối đến tận buôn Kô Sia để nghe và xem các nghệ nhân dạy hát và đánh cồng chiêng cho lớp trẻ.
< Đội cồng chiêng buôn Kô Sia biểu diễn những âm điệu của núi rừng Tây Nguyên trong nhà dài.
Từ khi Đội cồng chiêng buôn Kô Sia hoạt động có hiệu quả, những thế hệ trẻ đã biết đánh cồng, chiêng và tích cực tham gia các hội diễn văn hóa do tỉnh Đắc Lắc và khu vực Tây Nguyên tổ chức thì địa danh buôn Kô Sia đã nổi tiếng trong vùng.
< Nhà dài ở buôn Kô Sia là nơi sinh hoạt văn hóa của một trong các đội cồng chiêng nổi tiếng nhất Tây Nguyên.
Cách đây ba năm, Sở văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Đắc Lắc có đến đặt vấn đề với già làng Ma Len và Đội cồng chiêng buôn Kô Sia tổ chức giới thiệu văn hóa của người Ê Đê dành cho khách du lịch. Theo đó, các công ty du lịch, lữ hành cũng liên hệ để phát triển tour tại buôn Kô Sia để làm đa dạng các loại hình du lịch ở Tây Nguyên.
Từ khi buôn Kô Sia phát triển du lịch, đời sống đồng bào Ê Đê nơi đây được cải thiện rõ rệt. Ông Aê Yon ở Kô Sia cho biết rằng: “ Buôn chúng tôi giờ chuyên môn hóa trong việc phát triển du lịch. Này nhé, đàn bà con gái thì chuẩn bị các món ẩm thực truyền thống của người Ê Đê để du khách thưởng thức, đám thanh niên thì thành lập đội hát dân ca, sử thi còn lớp người gia chúng tôi thì đánh cồng, chiêng trong nhà dài”. Dulichgo
< Du khách đến thăm nhà dài ở buôn Kô Sia thưởng thức các điệu dân ca dân vũ truyền thống của người Ê Đê.
Hiện nay, hằng tuần buôn Kô Sia đón hằng chục đoàn khách đến để thưởng thức âm thanh cồng chiêng và những nét văn hóa đặc sắc của người Ê Đê. Mỗi đêm tại nhà dài ở buôn Kô Sia du khách được các nghệ nhân và lũ làng phục dựng lại các lễ hội truyền thống như: Lễ lúa mới, lễ đầu năm, lễ hội cầu mùa, lễ đẻ đất, đẻ nước...
< Cùng nhau thưởng thức những ché rượu cần...
Tại nhà dài của già làng Ma Len chúng tôi gặp đoàn khách là những sinh viên khoa Phương đông học của trường Khoa học Xã hội và Nhân văn đang hứng thú nghe những điệu dân ca mượt mà của người Ê Đê. Sinh viên Nguyễn Tuấn Hùng chia sẻ rằng: “ Em đang tìm hiểu về văn hóa của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên để làm đề tài tốt nghiệp. Tại đây, nghe và xem các nghệ nhân đánh cồng chiêng, nghe hát dân ca em như thấy được văn hóa cả Tây Nguyên gói gọn trong nhà dài”.
Nói về sự hiệu quả của buôn Kô Sia trong công tác phát triển du lịch, Ông Nguyễn Minh Đức, Phó chủ tịch UBND phường Tân Lập cho biết: “ Sản phẩm khách nhà dài ở buôn Kô Sia đã trở thành một loại hình du lịch đặc sắc của địa phương chúng tôi. Thông qua sản phẩm du lịch khách nhà dài, người Ê Đê có cơ hội quảng bá văn hóa với bè bạn quốc tế và quan trọng hơn, chúng tôi đã thành công trong việc bảo tồn văn hóa gắn với việc phát triển kinh tế”.
Nhà dài là nhà ở truyền thống của dân tộc Ê Đê. Nhà dài là nơi ở chung cả một dòng họ và thường xuyên được nối dài thêm mỗi khi một thành viên nữ trong gia đình xây dựng gia thất. Nhà dài được xây dựng bằng vật liệu gỗ, tre, nứa lợp mái tranh và là nơi diễn ra các nghi lễ đánh công chiềng của buôn khi tiếp khách ở nơi xa đến.
Theo Thông Thiện, Tất Sơn (Báo Ảnh VN)
Du lịch, GO!
Thursday, January 1, 2015
Vẻ đẹp hoang sơ của bãi biển Kỳ Co
Nằm dưới chân dãy núi Phương Mai sừng sững thuộc xã bán đảo Nhơn Lý, TP Quy Nhơn, bãi tắm hoang sơ Kỳ Co đẹp tựa một bức tranh vừa nên thơ vừa hùng vĩ.
< Từ thành phố Quy Nhơn chạy xe qua cầu Nhơn Hội về Nhơn Lý. Tại Nhơn Lý dùng thuyền, ghe hoặc thúng máy để đi đến nơi này.
Nơi đây hấp dẫn du khách, đặc biệt là những người ưa du lịch khám phá, bởi không chỉ có cảnh đẹp làm say lòng người mà còn biết bao điều thú vị...
Khởi hành từ trung tâm thành phố Quy Nhơn, chiếc xe du lịch chở đoàn 19 người tự tổ chức tour chúng tôi bon bon qua cầu Thị Nại, rẽ trái vào trục đường chính của Khu Kinh tế Nhơn Hội, trực chỉ Nhơn Lý ở bên kia bán đảo Phương Mai.
< Ngày nay, đa số người dân Nhơn Lý sử dụng thúng máy để đi đánh bắt hải sản. Khi du khách có nhu cầu muốn trải nghiệm cảm giác trên thúng máy thì người dân sẵn sàng dùng thúng máy chở đi. Nếu muốn dùng phương tiện nhanh hơn thì người dân sẽ dùng ghe hoặc ca nô.
Chiếc tàu cá thuê của lão ngư Võ Ngọc Hiếu nổ máy đưa chúng tôi rời khỏi làng chài thôn Lý Lương sau khi chất đầy đủ đồ ăn thức uống cùng một số vật dụng cần thiết cho buổi đi chơi do một anh bạn người địa phương chuẩn bị từ trước.
< Khi đến nơi này du khách hãy tìm một hang động ngồi nghỉ mát và ăn uống. Nếu du khách mua trọn gói tour này thì sẽ có người đi theo phục vụ ăn uống luôn. Do nơi này không ai sinh sống nên nó khá sạch sẽ và còn nguyên sơ.
“Cần phải mang theo vì Kỳ Co không có người ở nên không có bất kỳ một dịch vụ ăn uống hay du lịch nào. Cũng chưa có công ty du lịch nào mở tour ra đây”, anh bạn nói. Dulichgo
< Mùa hè là thời điểm thích hợp nhất cho du khách đến đây.
Chiếc tàu đánh một vòng quanh Hòn Sẹo, Hòn Cân cho chúng tôi tham quan trước khi quay đầu lại, nhằm thẳng hướng Kỳ Co... Làng chài mái ngói đỏ lô xô và ngôi chùa với tượng Phật bà Quan âm uy nghi giữa lưng chừng núi xa dần, nhường chỗ cho một bên là sóng nước mênh mông và một bên là dãy Phương Mai cong cong chạy dài suốt dọc bờ biển.
< Nước biển ở đây có hai màu: nước trong cạn gần bờ có màu xanh lam, còn phần biển ở ngoài xa có màu sẫm. Khi nước rút cạn thì du khách có thể chơi các trò như tạo tượng cát hay đá banh.
Một loạt những hang đá to nhỏ đầy vẻ kỳ bí ăn sâu vào dãy núi liên tục lướt qua. Hai ba chòi tre đơn sơ bất ngờ hiện ra trên những vách đá cheo leo. Nối giữa chòi này với chòi kia là những sợi dây thừng trông mỏng manh như sợi chỉ vắt qua những tảng đá lởm chởm. Chúng tôi vừa ngang qua Đảo Yến. Những chòi kia là của công nhân khai thác yến sào trên đảo.
Mải ngắm cảnh, chúng tôi dường như quên mất thời gian gần 20 phút đi trên tàu ra Kỳ Co. Chỉ đến khi đập vào mắt một dải cát trắng phau trải dài thành hình vòng cung dưới chân dãy núi đá sừng sững, chúng tôi mới biết mình sắp đến nơi.
Ấn tượng choáng ngợp đầu tiên khi bước chân lên Kỳ Co là đá. Đá ở khắp nơi, nhìn đâu cũng thấy như một trận địa đá khổng lồ. Đá nhô thành hàng ra biển, dựng đứng vời vợi bên ngoài những hang hốc mát lạnh, đá xếp dọc theo khe suối chảy từ trên đỉnh núi xuống, dàn muôn hình vạn trạng trên bãi biển… Nhưng tất cả đều giống nhau ở chỗ thô ráp, xù xì và khô khốc. Khô đến nỗi cây cối ở đây chỉ toàn là cỏ hay cây bụi mọc lúp xúp, trông xa như những đám rêu phủ lỗ chỗ trên mặt núi đá.
< Cảnh vật ở nơi này trông rất hùng vĩ.
Giống như mấy đoàn khác (cũng tự tổ chức đi chơi Kỳ Co), chúng tôi chọn cho mình một hốc đá để dựng trại. 3-4 anh bạn ngư dân địa phương đi theo đoàn lo nhóm bếp, chế biến các món hải sản mang theo ngon có tiếng của vùng biển Nhơn Lý. (Cũng tôm, cũng mực, cũng cá nhưng người Quy Nhơn sành ăn vẫn thích hải sản Nhơn Lý vì không hiểu sao tôm cá vùng này có phần ngon ngọt đậm đà hơn các vùng biển khác). Trong lúc bếp lửa nhóm lên, cả đoàn ào ra lặn ngụp vẫy vùng trong làn nước biển mùa hè trong veo mát rượi.
Tắm thỏa thuê, đám trẻ con trong đoàn tìm tới những hốc nước giữa các khe đá nhô ra biển để đuổi bắt lũ cá con đang tung tăng bơi lội trong đó; còn người lớn thì thích thú quay sang ghành đá sát mép nước cạy hàu sữa bám trắng vách ghành và tìm bắt nhum, ốc, hải sâm…đang chen chúc len giữa các khe đá sâu không quá sải tay. Dulichgo
< Hồ nước mặn tự nhiên ở bãi Kỳ Co. Những tảng đá núi bao quanh tạo thành một vòng chứa nước. Tại vũng nước này có nhiều tôm, cá đã vào nhưng ra không đươc. Bạn có thể dùng gương lặn để xem nó, khá thú vị.
Hết loanh quanh lặn bắt gần hốc đá cắm trại, mọi người lại rủ nhau sang bờ biển bao la đi bủa lưới bắt cá. Chỉ sau 2 lần giăng ở ngay sát bờ với mức nước lấp xấp ngang ngực, chúng tôi đã hớn hở thu về một xâu cá – một thành quả không tồi đối với những “ngư dân nghiệp dư”.
Có lẽ vì thấm thía công sức “lao động” vất vả và vì các loại hải sản mới đánh bắt lên còn tươi sống roi rói nên chúng tôi thấy thứ nào ăn cũng ngon dù chế biến rất đơn sơ – nướng trui (cá, nhum) hay luộc (ốc). Vừa nhâm nhi thưởng thức vừa đàn hát văn nghệ trong tiếng sóng vỗ rì rào vào chân ghành, có thú vị nào hơn.
Ấy vậy mà vẫn chưa hết điều hay ho chờ khám phá tại Kỳ Co: tắm suối. Dòng suối chảy từ trên đỉnh núi xuống, cách không xa bờ biển và nằm sát bên một hang đá nhỏ. Chính vì nét đặc biệt khác lạ này của Kỳ Co mà chúng tôi đã quyết định thay đổi kế hoạch thăm Hòn Sẹo ban đầu của mình thành tham quan bãi biển này, để vừa được tắm biển vừa được tắm nước ngọt… miễn phí.
< Trên những bậc núi có các vũng nước mưa đọng lại. Sau khi tắm biển du khách có thể tắm lại bằng nguồn nước ngọt này.
Bạn Nguyễn Ngọc Anh Linh (19 tuổi), một người dân ở nội thành Quy Nhơn đi chơi Kỳ Co cho biết: “Em đã tham quan nhiều bãi tắm đẹp quanh Quy Nhơn như Bãi Bàu, Bãi Xép, Bãi Dại, bãi biển ở Bệnh viện phong Quy Hòa… nhưng vẫn rất thích thú khi đến Kỳ Co vì cảnh ở đây rất đẹp và nước rất trong.
< Đánh bắt hải sản và thưởng thức “thành quả lao động”.
Thích nhất là đi bắt ốc rồi luộc ăn ngay tại chỗ. Tắm biển xong lại được tắm suối. Suối cũng trong, sạch và mát. Rất thú vị. Chỉ tiếc là ở trong hang nơi đoàn em ở vẫn có rác. Chắc là của những đoàn trước để lại. Phải chi ở đây có sự đầu tư du lịch, có người trông coi quản lý như bên Bãi Xép và khách du lịch có ý thức giữ gìn vệ sinh thì tốt biết mấy”. Dulichgo
Hoàng hôn bắt đầu phủ xuống bãi biển bình yên dưới bóng núi sẫm màu. Chúng tôi rời khỏi Kỳ Co sau khi không quên dọn dẹp sạch sẽ rác của chuyến đi. Hy vọng bãi biển xinh đẹp với bao điều kỳ thú này sẽ mãi vẹn nguyên nét trong lành và hoang sơ quyến rũ sau khi có thể trở thành một.
Theo Dulichbinhdinh.com, ảnh Nhonlyfriends
Du lịch, GO!
< Từ thành phố Quy Nhơn chạy xe qua cầu Nhơn Hội về Nhơn Lý. Tại Nhơn Lý dùng thuyền, ghe hoặc thúng máy để đi đến nơi này.
Nơi đây hấp dẫn du khách, đặc biệt là những người ưa du lịch khám phá, bởi không chỉ có cảnh đẹp làm say lòng người mà còn biết bao điều thú vị...
Khởi hành từ trung tâm thành phố Quy Nhơn, chiếc xe du lịch chở đoàn 19 người tự tổ chức tour chúng tôi bon bon qua cầu Thị Nại, rẽ trái vào trục đường chính của Khu Kinh tế Nhơn Hội, trực chỉ Nhơn Lý ở bên kia bán đảo Phương Mai.
< Ngày nay, đa số người dân Nhơn Lý sử dụng thúng máy để đi đánh bắt hải sản. Khi du khách có nhu cầu muốn trải nghiệm cảm giác trên thúng máy thì người dân sẵn sàng dùng thúng máy chở đi. Nếu muốn dùng phương tiện nhanh hơn thì người dân sẽ dùng ghe hoặc ca nô.
Chiếc tàu cá thuê của lão ngư Võ Ngọc Hiếu nổ máy đưa chúng tôi rời khỏi làng chài thôn Lý Lương sau khi chất đầy đủ đồ ăn thức uống cùng một số vật dụng cần thiết cho buổi đi chơi do một anh bạn người địa phương chuẩn bị từ trước.
< Khi đến nơi này du khách hãy tìm một hang động ngồi nghỉ mát và ăn uống. Nếu du khách mua trọn gói tour này thì sẽ có người đi theo phục vụ ăn uống luôn. Do nơi này không ai sinh sống nên nó khá sạch sẽ và còn nguyên sơ.
“Cần phải mang theo vì Kỳ Co không có người ở nên không có bất kỳ một dịch vụ ăn uống hay du lịch nào. Cũng chưa có công ty du lịch nào mở tour ra đây”, anh bạn nói. Dulichgo
< Mùa hè là thời điểm thích hợp nhất cho du khách đến đây.
Chiếc tàu đánh một vòng quanh Hòn Sẹo, Hòn Cân cho chúng tôi tham quan trước khi quay đầu lại, nhằm thẳng hướng Kỳ Co... Làng chài mái ngói đỏ lô xô và ngôi chùa với tượng Phật bà Quan âm uy nghi giữa lưng chừng núi xa dần, nhường chỗ cho một bên là sóng nước mênh mông và một bên là dãy Phương Mai cong cong chạy dài suốt dọc bờ biển.
< Nước biển ở đây có hai màu: nước trong cạn gần bờ có màu xanh lam, còn phần biển ở ngoài xa có màu sẫm. Khi nước rút cạn thì du khách có thể chơi các trò như tạo tượng cát hay đá banh.
Một loạt những hang đá to nhỏ đầy vẻ kỳ bí ăn sâu vào dãy núi liên tục lướt qua. Hai ba chòi tre đơn sơ bất ngờ hiện ra trên những vách đá cheo leo. Nối giữa chòi này với chòi kia là những sợi dây thừng trông mỏng manh như sợi chỉ vắt qua những tảng đá lởm chởm. Chúng tôi vừa ngang qua Đảo Yến. Những chòi kia là của công nhân khai thác yến sào trên đảo.
Mải ngắm cảnh, chúng tôi dường như quên mất thời gian gần 20 phút đi trên tàu ra Kỳ Co. Chỉ đến khi đập vào mắt một dải cát trắng phau trải dài thành hình vòng cung dưới chân dãy núi đá sừng sững, chúng tôi mới biết mình sắp đến nơi.
Ấn tượng choáng ngợp đầu tiên khi bước chân lên Kỳ Co là đá. Đá ở khắp nơi, nhìn đâu cũng thấy như một trận địa đá khổng lồ. Đá nhô thành hàng ra biển, dựng đứng vời vợi bên ngoài những hang hốc mát lạnh, đá xếp dọc theo khe suối chảy từ trên đỉnh núi xuống, dàn muôn hình vạn trạng trên bãi biển… Nhưng tất cả đều giống nhau ở chỗ thô ráp, xù xì và khô khốc. Khô đến nỗi cây cối ở đây chỉ toàn là cỏ hay cây bụi mọc lúp xúp, trông xa như những đám rêu phủ lỗ chỗ trên mặt núi đá.
< Cảnh vật ở nơi này trông rất hùng vĩ.
Giống như mấy đoàn khác (cũng tự tổ chức đi chơi Kỳ Co), chúng tôi chọn cho mình một hốc đá để dựng trại. 3-4 anh bạn ngư dân địa phương đi theo đoàn lo nhóm bếp, chế biến các món hải sản mang theo ngon có tiếng của vùng biển Nhơn Lý. (Cũng tôm, cũng mực, cũng cá nhưng người Quy Nhơn sành ăn vẫn thích hải sản Nhơn Lý vì không hiểu sao tôm cá vùng này có phần ngon ngọt đậm đà hơn các vùng biển khác). Trong lúc bếp lửa nhóm lên, cả đoàn ào ra lặn ngụp vẫy vùng trong làn nước biển mùa hè trong veo mát rượi.
Tắm thỏa thuê, đám trẻ con trong đoàn tìm tới những hốc nước giữa các khe đá nhô ra biển để đuổi bắt lũ cá con đang tung tăng bơi lội trong đó; còn người lớn thì thích thú quay sang ghành đá sát mép nước cạy hàu sữa bám trắng vách ghành và tìm bắt nhum, ốc, hải sâm…đang chen chúc len giữa các khe đá sâu không quá sải tay. Dulichgo
< Hồ nước mặn tự nhiên ở bãi Kỳ Co. Những tảng đá núi bao quanh tạo thành một vòng chứa nước. Tại vũng nước này có nhiều tôm, cá đã vào nhưng ra không đươc. Bạn có thể dùng gương lặn để xem nó, khá thú vị.
Hết loanh quanh lặn bắt gần hốc đá cắm trại, mọi người lại rủ nhau sang bờ biển bao la đi bủa lưới bắt cá. Chỉ sau 2 lần giăng ở ngay sát bờ với mức nước lấp xấp ngang ngực, chúng tôi đã hớn hở thu về một xâu cá – một thành quả không tồi đối với những “ngư dân nghiệp dư”.
Có lẽ vì thấm thía công sức “lao động” vất vả và vì các loại hải sản mới đánh bắt lên còn tươi sống roi rói nên chúng tôi thấy thứ nào ăn cũng ngon dù chế biến rất đơn sơ – nướng trui (cá, nhum) hay luộc (ốc). Vừa nhâm nhi thưởng thức vừa đàn hát văn nghệ trong tiếng sóng vỗ rì rào vào chân ghành, có thú vị nào hơn.
Ấy vậy mà vẫn chưa hết điều hay ho chờ khám phá tại Kỳ Co: tắm suối. Dòng suối chảy từ trên đỉnh núi xuống, cách không xa bờ biển và nằm sát bên một hang đá nhỏ. Chính vì nét đặc biệt khác lạ này của Kỳ Co mà chúng tôi đã quyết định thay đổi kế hoạch thăm Hòn Sẹo ban đầu của mình thành tham quan bãi biển này, để vừa được tắm biển vừa được tắm nước ngọt… miễn phí.
< Trên những bậc núi có các vũng nước mưa đọng lại. Sau khi tắm biển du khách có thể tắm lại bằng nguồn nước ngọt này.
Bạn Nguyễn Ngọc Anh Linh (19 tuổi), một người dân ở nội thành Quy Nhơn đi chơi Kỳ Co cho biết: “Em đã tham quan nhiều bãi tắm đẹp quanh Quy Nhơn như Bãi Bàu, Bãi Xép, Bãi Dại, bãi biển ở Bệnh viện phong Quy Hòa… nhưng vẫn rất thích thú khi đến Kỳ Co vì cảnh ở đây rất đẹp và nước rất trong.
< Đánh bắt hải sản và thưởng thức “thành quả lao động”.
Thích nhất là đi bắt ốc rồi luộc ăn ngay tại chỗ. Tắm biển xong lại được tắm suối. Suối cũng trong, sạch và mát. Rất thú vị. Chỉ tiếc là ở trong hang nơi đoàn em ở vẫn có rác. Chắc là của những đoàn trước để lại. Phải chi ở đây có sự đầu tư du lịch, có người trông coi quản lý như bên Bãi Xép và khách du lịch có ý thức giữ gìn vệ sinh thì tốt biết mấy”. Dulichgo
Hoàng hôn bắt đầu phủ xuống bãi biển bình yên dưới bóng núi sẫm màu. Chúng tôi rời khỏi Kỳ Co sau khi không quên dọn dẹp sạch sẽ rác của chuyến đi. Hy vọng bãi biển xinh đẹp với bao điều kỳ thú này sẽ mãi vẹn nguyên nét trong lành và hoang sơ quyến rũ sau khi có thể trở thành một.
Theo Dulichbinhdinh.com, ảnh Nhonlyfriends
Du lịch, GO!
Khám phá Bảo Thiên Xuân
(QNO) - Nằm trên triền tây chân núi Nứa ở xã Hành Tín Đông (Nghĩa Hành), Bảo Thiên Xuân có 3 mặt giáp núi, một mặt nhìn ra sông, bao bọc bởi hệ thống bờ thành được xếp đá vững chãi. Người dân địa phương gọi Bảo Thiên Xuân là làng, tên nguyên gốc là làng Xoáy, hoặc xóm Đá.
Vững chãi với thời gian
Con đường đá phủ rêu xanh men dưới chân núi Nứa, dẫn lối chúng tôi vào Bảo Thiên Xuân. Thấp thoáng, những bờ thành xếp đá với chiều cao trên 2,5m, xếp trên nền đá mặt đáy rộng gần 3m, hiện ra nối tiếp nhau, sừng sững. Không vôi vữa, không chất kết dính, những tảng đá tự nhiên được người xưa xếp chồng lên nhau, móc xích thành lũy dài 180m theo hướng Bắc-Nam.
< Một đoạn lũy đá thuộc bờ thành bảo Thiên Xuân.
Nhà nghiên cứu Lê Hồng Khánh nhận định: “Bảo Thiên Xuân là một trong những đồn, bảo nằm trong hệ thống Trường Lũy, may mắn còn giữ được những nét cơ bản về mặt kiến trúc”. Sự kiên cố của thành đá như một nhân chứng hùng hồn cho sự kiên trì, khéo léo, vượt lên thiên nhiên của người Việt xưa.
Qua 2 cuộc chiến tranh, vết tích của bom đạn chỉ san lấp những đoạn lũy ngắn ở đây. Còn thời gian, dường như chỉ phủ lên lớp cây cỏ, rêu phong và tôn thêm sự hùng vĩ của bờ thành vững chãi. Dulichgo
Diện tích bên trong lũy, thuộc khuôn viên làng Thiên Xuân, rộng 14.855m2. Làng Thiên Xuân có 54- 55 nóc nhà với gần 250 người sinh sống. Ông Hồ Xuân Mỹ- Trưởng thôn Thiên Xuân cho biết, tiền hiền khai khẩn làng Thiên Xuân là dòng họ Lê. Đất đai trong làng phần lớn tập trung ở dòng họ này, sau đến họ Nguyễn và họ Hồ (2 dòng họ hậu hiền). Đến nay, thế hệ con cháu tuy không còn sinh sống trong làng Thiên Xuân nhưng vẫn lưu giữ phần đất của ông bà, trồng trọt và chăn nuôi. Ông Mỹ cho biết, trước đây, khuôn viên làng Thiên Xuân chỉ toàn sỏi, đá. Để dựng nhà, ông bà tổ tiên đã xuống bờ sông dưới núi, gánh đất về lồng lên lớp đá, làm nền nhà. Đến nay, lớp đất nền còn phủ khoảng 20-30cm bề mặt đá. Những phần đá làm “cột mốc”, phân chia ranh giới giữa các nền nhà, vẫn còn nguyên như trước.
Người làng Thiên Xuân, phần lớn ở nhà tre vách đất, lợp tranh. Khu vực của làng thường xuyên có thú dữ lai vãng. Do đó, ngoài lũy đá bao bọc bên ngoài, làng còn có 2 cổng gỗ lớn, buổi tối sẽ cắt cử người đóng cổng. Người xưa kể lại, làng Thiên Xuân có đền thờ Sơn thần, là một con cọp trắng đã về chết trong làng. Gắn với đền thờ Sơn thần là nhiều câu chuyện thần bí về sự che chở của cọp trắng đối với bà con xóm Đá. Hằng năm, đến ngày 27 tháng Chạp, dân làng lại làm lễ cúng tế, tạ ơn Sơn thần.
Cần bảo tồn và phát triển
Thời gian những người dân cuối cùng chuyển đi khỏi làng, theo nhiều bậc cao niên trong địa phương là vào khoảng năm 1946. Bà Nguyễn Thị Tài (88 tuổi), vợ ông Hồ Trọng Tấn, người đã soạn tờ trình gửi đến các cơ quan chức năng, cung cấp nhiều thông tin quý giá về xóm Đá cho các nhà nghiên cứu sau này, cho biết: “Người dân xóm Đá trước đây sử dụng nguồn nước trong hang núi chảy ra. Do đó, hình thành hệ thống dẫn nước bằng mương xếp đá, dẫn nước từ suối Hố Cái (núi Nứa) về làng. Dulichgo
Những năm chiến tranh chống Pháp, cách mạng đã động viên bà con rời làng để tránh bệnh tật từ nguồn nước”. Gia đình bà Tài là những người đầu tiên rời làng Thiên Xuân. Theo bà Tài, thời điểm này, con sông trước làng đã bị bồi đắp thành cánh đồng trũng. Nhiều người dân đã xuống núi, trồng trọt trên cánh đồng trũng đó. Dần dần, họ dời nhà khỏi xóm Đá, xuống định cư ở xóm Vườn, nằm trước cánh đồng trũng. Làng Thiên Xuân bị bỏ hoang từ đó.
Năm 2008, Bảo Thiên Xuân được công nhận là di tích quốc gia, nằm trong hệ thống Trường Lũy. Xét về thời gian hình thành, vai trò đồn trú, phòng thủ và vai trò làng, xóm, khu dân cư của di tích này, đến nay vẫn còn nhiều giả thuyết trái chiều. Dulichgo
Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ - Giám đốc Sở VH-TT&DL tỉnh cho biết: “Người dân địa phương lâu nay vẫn xem Thiên Xuân là một cái làng mà các dòng họ nơi đây đã cư trú từ nhiều thế kỷ trước. Còn một số nhà nghiên cứu thì xem đây là một cái bảo trong hệ thống đồn bảo thuộc Di tích Trường Lũy. Tuy nhiên, dù xét trên khía cạnh nào thì cũng không làm thay đổi giá trị lịch sử của di tích Thiên Xuân. Chúng ta có thể ghi nhận nơi đây như một kiểu làng truyền thống theo mô hình phòng thủ, là nơi cư trú của một cộng đồng dân cư xưa. Và cần quan tâm đến vấn đề bảo tồn tính nguyên vẹn cũng như phát huy các giá trị lịch sử gắn liền với du lịch cho di tích này”.
Ông Vũ cho biết thêm: “Hiện nay, UBND tỉnh đã có chủ trương cho xây dựng đề án bảo tồn và phát huy giá trị di tích Trường Lũy, gắn với phát triển du lịch, trong đó có các đồn, bảo. Sở VHTT và DL đã lựa chọn một số đoạn di tích và một số bảo để tiến hành trùng tu, tôn tạo, trong đó có di tích Bảo Thiên Xuân”.
Theo Hà Xuyên (báo Quảng Ngãi)
Du lịch, GO!
Vững chãi với thời gian
Con đường đá phủ rêu xanh men dưới chân núi Nứa, dẫn lối chúng tôi vào Bảo Thiên Xuân. Thấp thoáng, những bờ thành xếp đá với chiều cao trên 2,5m, xếp trên nền đá mặt đáy rộng gần 3m, hiện ra nối tiếp nhau, sừng sững. Không vôi vữa, không chất kết dính, những tảng đá tự nhiên được người xưa xếp chồng lên nhau, móc xích thành lũy dài 180m theo hướng Bắc-Nam.
< Một đoạn lũy đá thuộc bờ thành bảo Thiên Xuân.
Nhà nghiên cứu Lê Hồng Khánh nhận định: “Bảo Thiên Xuân là một trong những đồn, bảo nằm trong hệ thống Trường Lũy, may mắn còn giữ được những nét cơ bản về mặt kiến trúc”. Sự kiên cố của thành đá như một nhân chứng hùng hồn cho sự kiên trì, khéo léo, vượt lên thiên nhiên của người Việt xưa.
Qua 2 cuộc chiến tranh, vết tích của bom đạn chỉ san lấp những đoạn lũy ngắn ở đây. Còn thời gian, dường như chỉ phủ lên lớp cây cỏ, rêu phong và tôn thêm sự hùng vĩ của bờ thành vững chãi. Dulichgo
Diện tích bên trong lũy, thuộc khuôn viên làng Thiên Xuân, rộng 14.855m2. Làng Thiên Xuân có 54- 55 nóc nhà với gần 250 người sinh sống. Ông Hồ Xuân Mỹ- Trưởng thôn Thiên Xuân cho biết, tiền hiền khai khẩn làng Thiên Xuân là dòng họ Lê. Đất đai trong làng phần lớn tập trung ở dòng họ này, sau đến họ Nguyễn và họ Hồ (2 dòng họ hậu hiền). Đến nay, thế hệ con cháu tuy không còn sinh sống trong làng Thiên Xuân nhưng vẫn lưu giữ phần đất của ông bà, trồng trọt và chăn nuôi. Ông Mỹ cho biết, trước đây, khuôn viên làng Thiên Xuân chỉ toàn sỏi, đá. Để dựng nhà, ông bà tổ tiên đã xuống bờ sông dưới núi, gánh đất về lồng lên lớp đá, làm nền nhà. Đến nay, lớp đất nền còn phủ khoảng 20-30cm bề mặt đá. Những phần đá làm “cột mốc”, phân chia ranh giới giữa các nền nhà, vẫn còn nguyên như trước.
Người làng Thiên Xuân, phần lớn ở nhà tre vách đất, lợp tranh. Khu vực của làng thường xuyên có thú dữ lai vãng. Do đó, ngoài lũy đá bao bọc bên ngoài, làng còn có 2 cổng gỗ lớn, buổi tối sẽ cắt cử người đóng cổng. Người xưa kể lại, làng Thiên Xuân có đền thờ Sơn thần, là một con cọp trắng đã về chết trong làng. Gắn với đền thờ Sơn thần là nhiều câu chuyện thần bí về sự che chở của cọp trắng đối với bà con xóm Đá. Hằng năm, đến ngày 27 tháng Chạp, dân làng lại làm lễ cúng tế, tạ ơn Sơn thần.Cần bảo tồn và phát triển
Thời gian những người dân cuối cùng chuyển đi khỏi làng, theo nhiều bậc cao niên trong địa phương là vào khoảng năm 1946. Bà Nguyễn Thị Tài (88 tuổi), vợ ông Hồ Trọng Tấn, người đã soạn tờ trình gửi đến các cơ quan chức năng, cung cấp nhiều thông tin quý giá về xóm Đá cho các nhà nghiên cứu sau này, cho biết: “Người dân xóm Đá trước đây sử dụng nguồn nước trong hang núi chảy ra. Do đó, hình thành hệ thống dẫn nước bằng mương xếp đá, dẫn nước từ suối Hố Cái (núi Nứa) về làng. Dulichgo
Những năm chiến tranh chống Pháp, cách mạng đã động viên bà con rời làng để tránh bệnh tật từ nguồn nước”. Gia đình bà Tài là những người đầu tiên rời làng Thiên Xuân. Theo bà Tài, thời điểm này, con sông trước làng đã bị bồi đắp thành cánh đồng trũng. Nhiều người dân đã xuống núi, trồng trọt trên cánh đồng trũng đó. Dần dần, họ dời nhà khỏi xóm Đá, xuống định cư ở xóm Vườn, nằm trước cánh đồng trũng. Làng Thiên Xuân bị bỏ hoang từ đó.
Năm 2008, Bảo Thiên Xuân được công nhận là di tích quốc gia, nằm trong hệ thống Trường Lũy. Xét về thời gian hình thành, vai trò đồn trú, phòng thủ và vai trò làng, xóm, khu dân cư của di tích này, đến nay vẫn còn nhiều giả thuyết trái chiều. Dulichgo
Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ - Giám đốc Sở VH-TT&DL tỉnh cho biết: “Người dân địa phương lâu nay vẫn xem Thiên Xuân là một cái làng mà các dòng họ nơi đây đã cư trú từ nhiều thế kỷ trước. Còn một số nhà nghiên cứu thì xem đây là một cái bảo trong hệ thống đồn bảo thuộc Di tích Trường Lũy. Tuy nhiên, dù xét trên khía cạnh nào thì cũng không làm thay đổi giá trị lịch sử của di tích Thiên Xuân. Chúng ta có thể ghi nhận nơi đây như một kiểu làng truyền thống theo mô hình phòng thủ, là nơi cư trú của một cộng đồng dân cư xưa. Và cần quan tâm đến vấn đề bảo tồn tính nguyên vẹn cũng như phát huy các giá trị lịch sử gắn liền với du lịch cho di tích này”.
Ông Vũ cho biết thêm: “Hiện nay, UBND tỉnh đã có chủ trương cho xây dựng đề án bảo tồn và phát huy giá trị di tích Trường Lũy, gắn với phát triển du lịch, trong đó có các đồn, bảo. Sở VHTT và DL đã lựa chọn một số đoạn di tích và một số bảo để tiến hành trùng tu, tôn tạo, trong đó có di tích Bảo Thiên Xuân”.
Theo Hà Xuyên (báo Quảng Ngãi)
Du lịch, GO!
Hệ thống rừng phòng hộ núi Hem, thác Mây.
(PTO) - Nằm cách trung tâm huyện Thanh Sơn khoảng 25 km về phía Tây Nam, hệ thống rừng phòng hộ núi Hem - Thác Mây thuộc địa phận xã Hương Cần (Phú Thọ) là một nơi mà bất cứ du khách nào yêu thiên nhiên, thích khám phá, ưa mạo hiểm đều mong muốn được một lần đặt chân tới. Nét hoang sơ, kỳ bí hòa cùng sự thuần khiết, trong lành của núi rừng, dòng suối, thác nước nơi đây như thôi thúc bước chân người lữ khách.
Thác Mây nằm trên đỉnh núi Hem với độ cao hơn 1000 m. Muốn vào thác Mây phải vượt qua một đoạn dốc cao gần như dựng đứng mà người dân ở Hương Cần vẫn nói vui với nhau rằng đó là “cổng trời”. Thêm vào đó, con đường để tới thác quanh co uốn lượn tạo sức hút đặc biệt với những du khách ưa khám phá. Hành trình tới Thác Mây là một thử thách không hề nhỏ, nếu không có những đam mê thôi thúc và sự nỗ lực thì rất có thể bạn sẽ bỏ cuộc giữa chừng.
Trên những lối mòn dẫn tới ngọn thác, đôi khi du khách phải gập người chui qua những đoạn rễ cây giăng như mạng nhện hay lách qua những tán cây cối um tùm mới có thể tiếp tục cuộc hành trình.
Tuy nhiên, mỗi lần nghỉ chân, dừng lại và hướng tầm nhìn ra xung quanh, ta sẽ được sống trong những không gian hùng vĩ nhưng không kém phần thơ mộng của núi rừng hoang sơ, hít thở mùi thơm thoang thoảng của những loài hoa dại, chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những bông hoa chuối rừng đỏ tươi và nếu may mắn, du khách cũng có thể mục sở thị cá Cóc Sần - loại động vật quý hiếm nằm trong sách đỏ cần bảo vệ khẩn cấp của Việt Nam và thế giới. Cả cánh rừng như một bức tranh sinh động với nhiều âm thanh và sắc màu hấp dẫn khiến ta có cảm giác như đang lạc vào cõi mơ. Dulichgo
Sau nửa ngày vượt rừng, trèo núi, những công sức của du khách sẽ được đền đáp xứng đáng khi Thác Mây hiện ra với vẻ đẹp tinh khôi và gần gũi. Nếu ai chưa từng đến Thác Mây ắt hẳn không thể hình dung được Thác Mây trong lành và thơ mộng đến nhường nào. Không có gì là nói quá khi nhiều người đã từng đến đây ví Thác Mây đẹp tựa một nàng công chúa ngủ trong rừng bởi vẻ đẹp lung linh, tự nhiên do tạo hóa ưu ái ban tặng.
Những ngọn thác cao, nước đổ xuống tạo ra những bọt nước trắng xóa như mây, có lẽ tên thác Mây được bắt nguồn từ đó. Hương Cần có 13 thác nước lớn nhỏ, trong đó thác Mây là đẹp hơn cả. Thác cao nhất có tên gọi là thác Thượng với nhiều cột nước cao khoảng 200m chảy thẳng xuống những khối đá đen khổng lồ, chen nhau tạo nên dòng chảy nhiều tầng, nhiều bậc. Ngoài ra, thác Thượng, thác Tiên Sa, thác Khọm Viếng… cũng có nhiều nét độc đáo rất riêng, đẹp mượt mà và kiêu hãnh giữa núi rừng.
Người ta thường ví thác Mây đẹp hiền hòa và nồng nàn như những người con gái Mường, người con gái Dao của vùng sơn cước. Có nơi thác đổ ầm ầm mạnh mẽ, nơi lại khẽ khàng, róc ráchnhư tiếng ru của rừng xanh, có nơi thác nước cao vút trút nước cuồn cuộn bọt trắng xóa, nơi lại mềm mại và e lệ như những thiếu nữ mới lớn… Dulichgo
Được thiên nhiên ưu đãi với không gian khoáng đạt, xen lẫn những thác nước lớn nhỏ là những khu rừng nguyên sinh với nhiều cây cổ thụ đường kính lớn tới hai, ba người ôm. Rừng phòng hộ ở Hương Cần có diện tích trên 1000 ha, trong đó riêng khu vực suối Hem có diện tích khoảng 800 ha. Với ưu thế về môi trường, khí hậu, thảm thực vật, suối, thác, đặc biệt là hệ thống rừng phòng hộ với hệ động, thực vật phong phú, cảnh quan thác nước hoang sơ cùng nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên khác thì hệ thống rừng phòng hộ núi Hem - thác Mây thực sự có một tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch, đặc biệt là loại hình du lịch sinh thái, khám phá, nghỉ dưỡng, tâm linh…Bên cạnh đó bản tính chân chất, thật thà, mến khách của đồng bào dân tộc ở Hương Cần khiến mỗi du khách đến đây khi ra về đều ấn tượng, bịn rịn chẳng muốn rời.
Du lịch không chỉ là trải nghiệm, không chỉ là khám phá mà du lịch còn để tận hưởng và để thấy yêu cuộc sống hơn. Hành trình vượt qua 13 thác nước là một trải nghiệm hết sức thú vị để du khách được sống trong một không gian yên bình, thơ mộng. Ngồi dưới chân thác lắng nghe tiếng nước chảy, cảm nhận từng gợn nước li ti phả nhẹ vào không gian để hòa cùng với thiên nhiên, với đất trời; thưởng thức vị ngọt bùi của hoa chuối, măng rừng, vị cay nồng của rượu trong cái mát mẻ, trong lành để xua tan đi những bộn bề, mệt nhọc của cuộc sống thường ngày.
Theo Huyền Trang (báo Phú Thọ)
Du lịch, GO!
Thác Mây nằm trên đỉnh núi Hem với độ cao hơn 1000 m. Muốn vào thác Mây phải vượt qua một đoạn dốc cao gần như dựng đứng mà người dân ở Hương Cần vẫn nói vui với nhau rằng đó là “cổng trời”. Thêm vào đó, con đường để tới thác quanh co uốn lượn tạo sức hút đặc biệt với những du khách ưa khám phá. Hành trình tới Thác Mây là một thử thách không hề nhỏ, nếu không có những đam mê thôi thúc và sự nỗ lực thì rất có thể bạn sẽ bỏ cuộc giữa chừng.
Trên những lối mòn dẫn tới ngọn thác, đôi khi du khách phải gập người chui qua những đoạn rễ cây giăng như mạng nhện hay lách qua những tán cây cối um tùm mới có thể tiếp tục cuộc hành trình.
Tuy nhiên, mỗi lần nghỉ chân, dừng lại và hướng tầm nhìn ra xung quanh, ta sẽ được sống trong những không gian hùng vĩ nhưng không kém phần thơ mộng của núi rừng hoang sơ, hít thở mùi thơm thoang thoảng của những loài hoa dại, chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những bông hoa chuối rừng đỏ tươi và nếu may mắn, du khách cũng có thể mục sở thị cá Cóc Sần - loại động vật quý hiếm nằm trong sách đỏ cần bảo vệ khẩn cấp của Việt Nam và thế giới. Cả cánh rừng như một bức tranh sinh động với nhiều âm thanh và sắc màu hấp dẫn khiến ta có cảm giác như đang lạc vào cõi mơ. DulichgoSau nửa ngày vượt rừng, trèo núi, những công sức của du khách sẽ được đền đáp xứng đáng khi Thác Mây hiện ra với vẻ đẹp tinh khôi và gần gũi. Nếu ai chưa từng đến Thác Mây ắt hẳn không thể hình dung được Thác Mây trong lành và thơ mộng đến nhường nào. Không có gì là nói quá khi nhiều người đã từng đến đây ví Thác Mây đẹp tựa một nàng công chúa ngủ trong rừng bởi vẻ đẹp lung linh, tự nhiên do tạo hóa ưu ái ban tặng.
Những ngọn thác cao, nước đổ xuống tạo ra những bọt nước trắng xóa như mây, có lẽ tên thác Mây được bắt nguồn từ đó. Hương Cần có 13 thác nước lớn nhỏ, trong đó thác Mây là đẹp hơn cả. Thác cao nhất có tên gọi là thác Thượng với nhiều cột nước cao khoảng 200m chảy thẳng xuống những khối đá đen khổng lồ, chen nhau tạo nên dòng chảy nhiều tầng, nhiều bậc. Ngoài ra, thác Thượng, thác Tiên Sa, thác Khọm Viếng… cũng có nhiều nét độc đáo rất riêng, đẹp mượt mà và kiêu hãnh giữa núi rừng.
Người ta thường ví thác Mây đẹp hiền hòa và nồng nàn như những người con gái Mường, người con gái Dao của vùng sơn cước. Có nơi thác đổ ầm ầm mạnh mẽ, nơi lại khẽ khàng, róc ráchnhư tiếng ru của rừng xanh, có nơi thác nước cao vút trút nước cuồn cuộn bọt trắng xóa, nơi lại mềm mại và e lệ như những thiếu nữ mới lớn… Dulichgo
Được thiên nhiên ưu đãi với không gian khoáng đạt, xen lẫn những thác nước lớn nhỏ là những khu rừng nguyên sinh với nhiều cây cổ thụ đường kính lớn tới hai, ba người ôm. Rừng phòng hộ ở Hương Cần có diện tích trên 1000 ha, trong đó riêng khu vực suối Hem có diện tích khoảng 800 ha. Với ưu thế về môi trường, khí hậu, thảm thực vật, suối, thác, đặc biệt là hệ thống rừng phòng hộ với hệ động, thực vật phong phú, cảnh quan thác nước hoang sơ cùng nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên khác thì hệ thống rừng phòng hộ núi Hem - thác Mây thực sự có một tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch, đặc biệt là loại hình du lịch sinh thái, khám phá, nghỉ dưỡng, tâm linh…Bên cạnh đó bản tính chân chất, thật thà, mến khách của đồng bào dân tộc ở Hương Cần khiến mỗi du khách đến đây khi ra về đều ấn tượng, bịn rịn chẳng muốn rời.
Du lịch không chỉ là trải nghiệm, không chỉ là khám phá mà du lịch còn để tận hưởng và để thấy yêu cuộc sống hơn. Hành trình vượt qua 13 thác nước là một trải nghiệm hết sức thú vị để du khách được sống trong một không gian yên bình, thơ mộng. Ngồi dưới chân thác lắng nghe tiếng nước chảy, cảm nhận từng gợn nước li ti phả nhẹ vào không gian để hòa cùng với thiên nhiên, với đất trời; thưởng thức vị ngọt bùi của hoa chuối, măng rừng, vị cay nồng của rượu trong cái mát mẻ, trong lành để xua tan đi những bộn bề, mệt nhọc của cuộc sống thường ngày.
Theo Huyền Trang (báo Phú Thọ)
Du lịch, GO!
Khu du lịch Bến Gót
Khu du lịch Bến Gót nằm tại Ngã ba Hạc thuộc hai phường Bạch Hạc và Bến Gót, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Khu du lịch có diện tích khoảng 100ha, được chia thành 2 phần ở bờ Bắc và bờ Nam sông Lô, phần phía Bắc thuộc phường Bến Gót đây là phần chủ yếu, còn phần phía Nam thuộc phường Bạch Hạc.
Tương truyền, đây là nơi Lạc Long Quân lập đàn tế trời và đã được tiên ông từ trên trời xuống, ngồi trên tảng đá này, đặt tên, phân định anh em cho một trăm người con do Âu Cơ sinh ra, sau nơi đây buôn bán kinh doanh sầm uất, trên bến dưới thuyền mới có tên là Bến Gót, Đình Bạch Hạc còn có tên là đình thôn Việt Trì là nơi thờ các vua Hùng, Đền Lang Đài là nơi hai chàng Sơn Tinh và Thuỷ Tinh đấu võ, Miếu Hà Thần là nơi thờ thần Sông đã có công giúp vua Trần Minh Tông đánh Man Đà Giang dẹp yên bờ cõi.
Đền Bạch Hạc là nơi thờ thổ lệnh có tên huý là Trần Lan và em là Thạch Khanh tên huý là Trần Bảo có phép thuật thần y, chữa được bách bệnh cho nhân dân, sau hoá thần ở Tam Thanh Quán bên bờ sông Bạch Hạc, được phong làm thần thiêng ở ngã ba sông Hạc...
Ngoài ra trên mảnh đất này còn tồn tại rất nhiều sự tích ly kỳ, nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc như: Hội bơi chải, Hội giã bánh dầy,... nói lên sự hình thành tên làng, tên xóm, tên sông, những nét sinh hoạt văn hoá truyền thống của của nhân dân ta gắn liền với nền văn minh sông Hồng và nền văn minh lúa nước. Dulichgo
Khu du lịch Bến Gót có đặc trưng điển hình của vùng trung du Bắc Bộ, với địa hình nhấp nhô, phần đất phía Bắc có vị thế như một bán đảo quay về hướng Đông Nam, tạo nên hình ảnh về bến nước, dòng sông. Đặc biệt là sự gắn kết hài hoà giữa đồi núi, cây cối, sông nước tạo nên phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, thích hợp để xây dựng khu du lịch nghỉ ngơi, thư giãn, vọng cảnh.
Khu du lịch bao gồm các khu vui chơi giải trí, thể thao, nhà vườn, cắm trại, khách sạn, nhà nghỉ, câu cá, trại sáng tác, lầu bình thơ,... được tổ chức tạo thành trục chủ đạo đi từ cổng chính đến khu lầu tưởng niệm và vọng cảnh phía bờ sông, kết thúc là Lầu Bạch Hạc. Dulichgo
Lầu Bạch Hạc được xây dựng theo hướng vươn cao vừa tượng trưng cho đàn tế trời vừa là nơi du khách có thể ngắm cảnh xa xa, dưới tầng lầu có bia tưởng niệm 100 người con của Lạc Long Quân - Âu Cơ, giúp cho du khách hiểu rõ hơn nguồn gốc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
Bên cạnh Lầu Bạch Hạc được tái dựng tảng đá lưu vết chân và hình dáng tiên ông phân định ngôi thứ, mở đầu cho sự hưng thịnh, đoàn kết, thương yêu, đùm bọc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Phần đất phía Nam chủ yếu dành cho các di tích lịch sử và thể thao nước truyền thống, một phần dành cho các nhà nghỉ nhỏ dưới dạng vườn nông thôn, vườn sinh thái.
Theo DulichPhutho
Du lịch, GO!
Tương truyền, đây là nơi Lạc Long Quân lập đàn tế trời và đã được tiên ông từ trên trời xuống, ngồi trên tảng đá này, đặt tên, phân định anh em cho một trăm người con do Âu Cơ sinh ra, sau nơi đây buôn bán kinh doanh sầm uất, trên bến dưới thuyền mới có tên là Bến Gót, Đình Bạch Hạc còn có tên là đình thôn Việt Trì là nơi thờ các vua Hùng, Đền Lang Đài là nơi hai chàng Sơn Tinh và Thuỷ Tinh đấu võ, Miếu Hà Thần là nơi thờ thần Sông đã có công giúp vua Trần Minh Tông đánh Man Đà Giang dẹp yên bờ cõi.
Đền Bạch Hạc là nơi thờ thổ lệnh có tên huý là Trần Lan và em là Thạch Khanh tên huý là Trần Bảo có phép thuật thần y, chữa được bách bệnh cho nhân dân, sau hoá thần ở Tam Thanh Quán bên bờ sông Bạch Hạc, được phong làm thần thiêng ở ngã ba sông Hạc...
Ngoài ra trên mảnh đất này còn tồn tại rất nhiều sự tích ly kỳ, nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc như: Hội bơi chải, Hội giã bánh dầy,... nói lên sự hình thành tên làng, tên xóm, tên sông, những nét sinh hoạt văn hoá truyền thống của của nhân dân ta gắn liền với nền văn minh sông Hồng và nền văn minh lúa nước. Dulichgo
Khu du lịch Bến Gót có đặc trưng điển hình của vùng trung du Bắc Bộ, với địa hình nhấp nhô, phần đất phía Bắc có vị thế như một bán đảo quay về hướng Đông Nam, tạo nên hình ảnh về bến nước, dòng sông. Đặc biệt là sự gắn kết hài hoà giữa đồi núi, cây cối, sông nước tạo nên phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, thích hợp để xây dựng khu du lịch nghỉ ngơi, thư giãn, vọng cảnh.
Khu du lịch bao gồm các khu vui chơi giải trí, thể thao, nhà vườn, cắm trại, khách sạn, nhà nghỉ, câu cá, trại sáng tác, lầu bình thơ,... được tổ chức tạo thành trục chủ đạo đi từ cổng chính đến khu lầu tưởng niệm và vọng cảnh phía bờ sông, kết thúc là Lầu Bạch Hạc. Dulichgo
Lầu Bạch Hạc được xây dựng theo hướng vươn cao vừa tượng trưng cho đàn tế trời vừa là nơi du khách có thể ngắm cảnh xa xa, dưới tầng lầu có bia tưởng niệm 100 người con của Lạc Long Quân - Âu Cơ, giúp cho du khách hiểu rõ hơn nguồn gốc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
Bên cạnh Lầu Bạch Hạc được tái dựng tảng đá lưu vết chân và hình dáng tiên ông phân định ngôi thứ, mở đầu cho sự hưng thịnh, đoàn kết, thương yêu, đùm bọc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Phần đất phía Nam chủ yếu dành cho các di tích lịch sử và thể thao nước truyền thống, một phần dành cho các nhà nghỉ nhỏ dưới dạng vườn nông thôn, vườn sinh thái.
Theo DulichPhutho
Du lịch, GO!
Subscribe to:
Posts (Atom)



.jpg)






































